Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình – Cùng Số Nhưng Khác Phận

Trong mấy tuần qua, sư kiện Việt Khang được đến Mỹ làm xôn xao dư luận hải ngoại, khiến lòng tôi không khỏi bùi ngùi khi nghĩ đến một người bạn cùng đấu tranh với anh, bị bắt cùng anh, hiện đang còn sống ở Việt Nam với ước mơ một lần được đặt chân đến Mỹ. Nhưng hình như anh đã bị lãng quên. Đó là nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình.

Việt Khang là một thanh niên có tài, và có lòng yêu nước. Điều đó chứng tỏ trong những ca khúc đấu tranh của anh mà trong đó “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu? là hai bản nhạc dậy lên tình yêu nước tha thiết, rúng động hàng triệu con tim trong cũng như ngoài nước.”Anh Là Ai?” được sáng tác vào khoảng tháng 8/2011, trong thời điểm chống Trung Cộng của người dân Việt đang lên cao và đã bị nhà cầm quyền cộng sản đàn áp dã man. Hình ảnh đó đã chạm vào trái tim chàng nhạc sĩ yêu nước, thương dân. Đồng hành với anh còn có nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, cũng sáng tác rất nhiều ca khúc đa dạng hơn. Tuy nhiên, mỗi tác phẩm được ra đời, như những đứa con, đều có số phận riêng của nó.

“Anh Là Ai? và “Việt Nam Tôi Đâu?” đã ra đời bởi nhiều trắc trở và số phận cũng khá hẩm hiu, trước khi lớn mạnh và được nhiều người biết đến như bây giờ. Chúng ra đời vào thời điểm mà nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước do Vũ Trực chủ xướng để liên kết với những thanh niên trẻ đấu tranh trong nước. Việt Khang liên lạc được với Vũ Trực, hát cho Vũ Trực nghe bài hát mà anh vừa mới sáng tác. Vũ Trực là người đặt tên cho bài hát đó, chính là bài “Việt Nam Tôi Đâu?. Để tránh gặp nguy hiểm, Vũ Trực đặt tên Việt Khang cho Võ Minh Trí (Khang là tên con trai của Võ Minh Trí).

“Anh Là Ai?”, “Việt Nam Tôi Đâu?” của Việt Khang cùng 12 bài hát khác của Trần Vũ Anh Bình (trong đó có 3 bài viết chung với Việt Khang) được chuyển ra hải ngoại cho Vũ Trực. Vũ Trực giao cho Thu Sương ở Pháp Quốc (Hạt Sương Khuya, người yểm trợ cho Tuổi Trẻ Yêu Nước). Thu Sương là người trình bày hai nhạc phẩm này đầu tiên ở hải ngoại. Sau đó Thu Sương gửi cho Trúc Hồ, nhưng hai bài hát này bị Trúc Hồ làm ngơ (Trúc Hồ không trả lời). Khi chiến dịch thỉnh nguyện thư của đài SBTN được tung ra vào đầu tháng 3 năm 2012, Vũ Trực có tham dự cùng Trúc Hồ và Việt Dũng.  Vũ Trực cũng nhờ Trúc Hồ và Việt Dzũng giúp phổ biến những nhạc phẩm này nhưng không thành.  Sau đó, Vũ Trực tìm đến Phong Trào Hưng Ca Việt Nam (PTHCVN) nhờ phổ biến chung với những nhạc phẩm đấu tranh khác của Hưng Ca. Phong Trào Hưng ca ra thông cáo sẵn sàng cùng đồng hành với Tuổi Trẻ Yêu Nước muốn phổ biến và ra CD chung với những nhạc phẩm của Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình. Trong lúc anh em Hưng Ca đang còn thảo luận thì Việt Dzũng lên tiếng, “Nếu nhạc hay thì Trúc Hồ đã làm rồi chứ đâu cần tới PTHCVN”. Vì chuyện này PTHCVN có chút lủng củng nội bộ. Vũ Trực tự ái rút lại lời yêu cầu. Và mang những nhạc phẩm này nhờ ban Tù Ca Xuân Điềm, nhưng cũng không thành. Cuối cùng, Vũ Trưc liên lạc với phóng viên Nghê Lữ tại San Jose và được phóng viên Nghê Lữ cùng cô Hạ Vân và ông Mai Khuyên tình nguyện đứng ra làm ban tổ chức giới thiệu Dòng Nhạc Tuổi Trẻ Yêu Nước tại San Jose, California.  Vì nhu cầu cần nghệ sĩ chuyển tải nhạc đấu tranh, Vũ Trực gửi thư mời tổ chức Liên Kết tham gia. Lời yêu cầu duy nhất của Tuổi Trẻ Yêu Nước là chuyển tải miễn phí những ca khúc trong bản cáo trạng của hai nhạc sĩ trẻ đến đồng hương khắp nơi ở hải ngoại và chuyển ngược về trong nước.  Liên Kết nhận lời. Thế là phóng viên Nghê Lữ ở San José đứng ra tổ chức một buổi ca nhạc để hát những ca khúc của Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, với sự tham gia của anh em trong Liên Kết, gồm nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, Kim Sơn, Như Hoa và Thu Sương từ Pháp qua. Chính vì thế nhóm “Liên Kết Văn Nghệ Sĩ, Thanh Niên, Sinh Viên Việt Nam Tự Do” (gọi tắt là Liên Kết) ra đời do nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh (anh cũng là thành viên trong PTHCVN) và một số anh chị em sáng lập. Sau đó, Liên Kết có tổ chức nhiều buổi trình diễn miễn phí các nơi, để phổ biến những nhạc phẩm này. Tiền túi tự bỏ ra, kể cả chi phí di chuyển và chi phí tổ chức. Kèm theo đó, Liên Kết cho ra mắt sách và CD để lấy tất cả những số tiền thu được (không trừ chi phí) giúp Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình và các anh em đấu tranh khác trong nước.

Vì phương tiện hạn chế, Liên Kết không “đẩy” những bài hát của Trần Vũ Anh Bình lên được. Tuy nhiên, tháng 12/2011, Võ Minh Trí (Việt Khang) và Trần Vũ Anh Bình bị kết án tù vì 14 ca khúc (Trần Vũ Anh Bình có tên trong 12 nhạc phẩm với bút hiệu Hoàng Nhật Thông). Trong bản cáo trạng, có bài “Quê Hương Ngày Về” được sáng tác tháng 7/2011, bởi ba người Vũ Trực, Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình (theo người viết được biết lời ca khúc này là của Vũ Trực, vì Vũ Trực không có khả năng viết nhạc, hơn nữa lời của bài hát này mở đầu bằng “Ta là người xa Quê Hương, ta là người đang tha phương…”. Đây là ca khúc bị kết án nặng nề nhất vì có câu “Dựng cờ vàng sọc đỏ quê hương, màu cờ vàng sọc đỏ yêu thương…”. Việt Khang bị tù 4 năm và 2 năm quản chế (Việt Khang xác định trong cuộc phỏng vấn của SBTN là 3 năm quản chế chứ không phải 2 năm). Trong khi Trần Vũ Anh Bình bị tới 6 năm tù và 3 năm quản chế.

Thế mới thấy cái “tội” của Trần Vũ Anh Bình nặng hơn Việt Khang nhiều. Vì những lời lẽ bốc lửa không những chống Trung Cộng, còn chống trực diện CSVN  trong 12 ca khúc anh viết, làm nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam giận tái mặt.

Tháng 8/2011 Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình bị bắt lần thứ nhất. Đến tháng 12/2011 cả hai bị bắt lại. Và tháng 12/2012 bị tuyên án tù. Khi Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình bị bắt lại lần thứ hai (tháng 12/2011), dư luận lại nổi lên một làn sóng ủng hộ hai nhạc sĩ bị bắt giam vì những tác phẩm của mình. Sau đó, đến năm 2012 Trúc Hồ mới chú ý và lên Youtube tìm lại hai bản bản nhạc của Việt Khang (mà Trúc Hồ đã lãng quên) do chính Việt Khang trình bày (*). Và “Anh Là Ai?”, “Việt Nam Tôi Đâu?” được hát trên sân khấu Asia, được đầu tư, phối khí kỹ càng và với giàn ca sĩ hùng hậu, cùng với bản án tù của Việt Khang đã làm hai bài hát này bay cao hơn, xa hơn đến với đồng bào đang ủng hộ Việt Khang khắp nơi trên thế giới.

Còn Trần Vũ Anh Bình cùng chung số tù với Việt Khang nhưng khác phận, những bài hát của anh cũng thế, cũng lu mờ như số phận của anh. Trong khi Việt Khang được báo chí và truyền thông hải ngoại thổi bùng lên như một ngọn lửa tỏa sáng, thì Trần Vũ Anh Bình vẫn phải sống trong bóng tối với ước mơ nhỏ nhoi là được qua Mỹ một lần để được đứng dưới tượng dài Việt Mỹ mà tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hòa, tri ân đồng bào hải ngoại đã từng đứng đây cầu nguyện cho anh và Việt Khang khi cả hai bị bắt vào tù. Anh cũng còn một ước mơ nữa là được thực hiện một cuốn CD nhạc của anh ở hải ngoại, kiếm chút tiền về hát ở nhà thờ Chúa Cứu Thế cho các anh Thương Phế Binh VNCH nghe, và giúp đỡ các anh ấy chút vật chất cũng như tinh thần.

Ước mơ ấy tưởng là bình thường, nhưng đối với anh chỉ là ước mơ không bao giờ với tới được, vì lấy ai vận động cho anh? Trong khi báo chí và các phương tiện truyền thông thì như con dao hai lưỡi. Nó có sự bất công và tàn nhẫn của nó. Nó có thể nâng người này lên cao, gạt người khác ra ngoài hoặc có thể đưa người khác xuống tận bùn dơ bằng những màn chụp mũ, mạ lị….

Ngày ra tù Trần Vũ Anh Bình tìm đủ mọi cách để Liên lạc Việt Khang, rủ Việt Khang đi uống cà phê, nhưng không thấy Việt Khang trả lời. Qua tới Mỹ, Việt Khang mới nhắc sơ một chút về Trần Vũ Anh Bình trong một cuộc phỏng vấn do đài SBTN thực hiện.

Việt Khang là tay chơi trống trong nhóm. Nhạc lý không vững bằng Trần Vũ Anh Bình. Chính Trần Vũ Anh Bình đã khuyên Việt Khang nên học thêm về nhạc. Hai người đã từng sáng tác chung với nhau mấy bài, trong đó có bài “Dòng Máu Anh Hùng” (sáng tác vào tháng 7/2011) có những câu “Quê hương mình đang rướm máu. Xin hãy góp lại giọt máu tuổi trẻ Việt Nam. Cùng lên tiếng Việt Nam Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền…”. Và bài “Oai Hùng Đất Việt” (7/2011) là bài hát nhằm kêu gọi thanh niên đứng lên bảo vệ đất nước trước nguy cơ xâm lược của giặc Tàu: “.. Khi giọt máu đào Việt Nam tuôn đổ. Tuổi trẻ hỡi đứng lên  theo gương tổ tiên… Khi nước non giờ đây đang bị xâm lấn…”.

Nói như thế, bạn bè cùng chung hoạn nạn không hẳn là cùng chung phú qúi. Mỗi người một phận số. Tôi thương Việt Khang ở chỗ kẻ có lòng, nhưng một khi đã bước vào thế giới rộng lớn hơn, lòng người không đo lường được, không biết anh sẽ xoay trở ra sao? Anh được săn đón như vị anh hùng dân tộc, nhưng bản thân anh có thích thế không? Người nhạc sĩ có tâm không cần những hào quang mà mọi người vội vã chiếu vào anh. Tôi thấy đám đông vây quanh anh tại phi trường Los Angeles, mà sao trông anh vẫn lạc lõng đến tội nghiệp. Tôi mừng vì anh đã đến được bến bờ tự do, nhưng lại lo cho anh đang bước vào một con đường khó đi hơn, bởi bao nhiêu trắc trở lẫn thị phi.

Trong 14 ca khúc của hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình bị mang ra xét án, “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu?” của Việt Khang thì chúng ta đã biết và nghe nhiều rồi. Ba ca khúc viết chung với nhau như tôi đã trình bày ở trên. Còn lại 9 ca khúc khác của Trần Vũ Anh Bình, tôi xin đơn cử một số bài hát dưới đây. Những bài hát này đã khiến Trần Vũ Anh Bình đi tù lâu hơn Việt Khang. Vì sức phản kháng mãnh liệt của nó:

“Mẹ hỏi sao quê hương bị đọa đầy? Cha hỏi con sao dân oan thán đêm ngày? Xin trả lời vì tay sai bán nước, vung tay đánh đập xâu xé từng người dân… Hoàng Sa nay đâu sao biển máu dâng tràn. Trường Sa nay đâu, nhuộm thắm giọt máu đào, Thân con, một đời nợ nước, Nói lên nỗi lòng, xá gì ngục tù kia…” (Nỗi Đau Quê Hương, 07/2011). Hoặc “Ai đan tâm xâu xé cướp ruộng đồng…? Hỏi ai? Hỏi ai? Con dân chết một trời là vì ai?… Quê hương ơi! Máu đổ khắp mọi miền, nấc nghẹn lời.. Quê hương ơi giải phóng đã lâu rồi nhưng được gì? Được gì ngoài thân xác ốm gầy mòn người em thơ?” (Còn Đó Nỗi Đau, 7/2011). Anh trực diện với CSVN. Không sợ hãi. Mỗi câu hát của anh như cào cấu vào vết thương dân tộc. Những lời ca nhẹ nhàng nhưng đào sâu vào nỗi đau của người dân oan cô thế. Mỗi bài hát là mỗi cái tát vào mặt nhà cầm quyền CSVN.

Ra khỏi tù, Trần Vũ Anh Bình vẫn không sợ hãi.  Anh bày tỏ ý muốn tuyển lựa ca sĩ hát nhạc đấu tranh, tiếp tục ca hát đấu tranh tại Việt Nam.

Tôi yêu những ca khúc anh đã viết. Lời lẽ không trau chuốt, không ẩn dụ, nhưng đánh thẳng vào nhà cầm quyền CSVN. Thế cho nên anh bị kêu án tới 6 năm tù giam và 3 năm quản chế. Chín năm. Hỏi xem chúng ta có bao nhiêu cái 9 năm cho tuổi trẻ?

Thấy Việt Khang qua được bến bờ tự do, tôi mừng cho Việt Khang, nhưng không khỏi chạnh lòng khi nghĩ tới Trần Vũ Anh Bình. Đời sống vốn dĩ không công bằng. Tôi mong một ngày rất gần Trần Vũ Anh Bình sẽ đến được Hoa Kỳ, dù chỉ là để viếng thăm và tri ân đồng bào hải ngoại đã từng quan tâm đến anh khi anh bị cầm tù.

LAT

(*) Trúc Hồ trong chương trình phỏng vấn Việt Khang của SBTN (Việt Khang tâm tình & Cám ơn cộng đồng người Việt 2/2018)

TVAnh BinhTVAB Tim kiem 2Oai Hung Dat Viet – Hoang Nhat Thong – Viet KhangNoi Dau Que Huong – Hoang Nhat Thong

Posted in Uncategorized | Tagged , , , , , | Leave a comment

Ăn Mừng Giết Đồng Bào Vô Tội, Cái Nham Nhở của Việt Cộng

CS nham nhở là kỷ niệm 50 năm ngày tàn sát dân lành tết Mấu Thân, nhưng so vớí ngày 30 tháng 04 năm 75, số người chết do CS gây ra còn gấp trăm ngàn lần.

Ngày 30 tháng 04/̃̀75 ngoài CS sẽ tổ chức ăn mừng ngày “phỏng dái” miền Nam, Canada cũng sẽ có “thằng”  ăn mừng, đón xem…….mặt mủi những thằng tai to mặt thịt này……..

Vạch mặt những thằng NHAM NHỞ dùm….

Sự Nham Nhở Phải Có Giới Hạn – Trần Mộng Lâm

Việt Công nham nhở, đó là lẽ dĩ nhiên.Việc này không làm ai ngạc nhiên. Điều làm người ta ngạc nhiên là sự nham nhở của họ hình như không có giới hạn. Tôi muốn nói đến dự tính tổ chức ăn mừng cái mà họ gọi là chiến thắng Tết Mậu Thân.
Tất cả chúng ta, những người trên sáu chục tuổi sống tại Miền Nam vào thời điểm đó không ai quên được tính các dã man, vô nhân đạo và sự gian xảo của Việt Công khi chúng bất thần nổ súng tấn công Miền Nam sau khi đã chính chúng đề nghị ngưng bắn trong 3 ngày Tết . Lợi dụng sự bất ngờ, những ngày ban đầu chúng đã đạt được một số thắng lợi. Tuy nhiên quân dân Miền Nam sau đó đã mãnh liệt chống cự lại quân xâm lấn. Dân chúng Miền Nam hoàn toàn thờ ơ với lời kêu gọi Tổng Nổi Dậy của bọn chúng. Kết quả là Việt Công hoàn toàn thất bại trong cộc tấn công này. Điều đó sử sách còn ghi, và những tài liệu phim ảnh tràn ngập trong các thư viện .

Ngoài Trung, tại thành phố Huế, lúc đầu Việt Công hoàn toàn kiểm soát thành phố này. Lầm tưởng rằng là cờ đã đến tay, những phần tử Việt Công gốc Huế mà chúng ta đều biết danh tánh đã để lộ bản tính thú vật của chúng khi thiết lập các toà án nhân dân để hành hình, để chôn sống các người dân hiền lành vô tội, không cho họ một cơ hội nào để tự bào chữa, việc mà các dân tộc văn minh trên thế giới đều tôn trọng. Nhũng gì còn ghi lại của Tết Mậu Thân tại Huế chỉ chứng tỏ những điều phi nhân, người Huế giết người Huế, bạn bè cùng lớp giết nhau, láng giềng chòm xóm hại nhau, học trò chôn sống thấy, vân vân và vân.Gọi những hành vi đó là phi nhân, vì chỉ có loài vật mới làm được những chuyện kinh tởm này.
Tóm lại, Tết Mậu Thân chỉ có chết chóc. Biết bao nhiêu cán binh Công Sãn đã bỏ mình, biết bao nhiêu người dân Huế, trong đó có các ông già, phụ nữ và trẻ em đã thiệt mạng một cách oan uỗng, bị chôn sống hay phải tự đào huyệt để chôn mình. Hình ảnh những người thường dân kêu khóc thảm thương ngững ngày sau đó khi đi tìm xác thân nhân dưới các mộ phần tập thể còn ghi lại trong các khúc phim mà người đã xem qua không bao giờ quên được..Những tưởng các chuyện kinh hoàng đó sẽ được nhắc tới như một chuyện sai lầm kèm theo lời chân thành xin lỗi , nào ngờ những gì nhà cầm quyền CS toan tính thực hiện 50 năm sau làm người ta choáng váng vì ngạc nhiên.
Tại Việt Nam, dưới sự cai trị của Việt Công, người ta đang dự tính rầm rộ ngày kỷ niệm 50 năm biến cố Tết Mậu Thân mà bọn chúng coi như là một chiến thắng về quân sự.
Chiến thắng nào ??
Hình ảnh các chiến binh CS chết nằm sắp lớp bên nhau còn đó. Hình ảnh các chiến binh VNCH lấy lại Cổ Thành và treo ngọn cờ vàng tại đây còn đó. Bài hát ca ngợi sự lấy lại cổ thành cũng vẫn còn đó.-(Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa lấy lại đêm qua bằng máu) !!!
Chiến thắng nào ??
-Chống Mỹ.- Ôm chân Mỷ.-Rồi lại kỷ niệm chiến thắng chống Mỹ.
Chỉ có người CS mới làm được như vậy.
Nhưng sự nham nhở nào cũng phải có giới hạn.
Chỉ có bọn quỷ mới nhởn nhơ ăn mừng  những kỷ niệm đau thương của Mâu Thân 1968. Người tử tế chỉ muốn quên đi.
Trần Mộng Lâm
Posted in Remembrance, victims of communism | Tagged , , , , , | Leave a comment

Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, Lời Kể Của Nhân Chứng Sống

http://www.unc.edu/depts/diplomat/AD_Issues/amdipl_8/bullington_tet.html

Tưởng Niệm 50 năm Tết Mậu Thân, xin gởi đến đọc giả thân hữu một bài viết của một  Mỹ kẹt tại thành phố Huế trong cái gọi là “tổng công kích, tổng nổi dậy” của cộng sản .  Ông James Bullington lúc bấy giờ là đóng tại Quảng Trị, ra Huế vào dịp Tết để đón Xuân với gia đình vợ tương lại.  Đêm Mồng Một, ông và 2 người bạn Mỹ kẹt lại thành phố Huế, ông thoát chết trong đường tơ, kẻ tóc, nhưng hai người bạn ông thì bị VC giết chết.  Kể cả 2 vị linh mục Pháp đã chấp chứa ông cũng bị việt cộng giết.  Hôn Thê của ông, cô Túy Cầm là nhân viên tòa Lãnh  Sự Mỹ tại Đà Nẵng may mắn thoát chết.  Cô làm cho Mỹ, nhưng vì ở Đà Nẵng nên không có tên trong sổ tử hình của việt cộng khi vào đến Huế.  Anh và em trai cô là quân nhân QLVNCH đã bị bắt đi mất tích.  Sau này mới tìm thấy xác họ trong các hầm chôn tập thể.  Hơn 5000 người đã bị cộng sản VN giết, bị chôn sống.  Đó là chính sách của cái gọi là “giải phóng”, nhưng kỳ thực là hy sinh đồng bào ruột thịt để thi hành “nghĩa vụ” “…ta đánh đây là đánh cho Nga Sô, cho Trung Quốc” của hồ chí minh và bè lũ.

50 năm đã qua vẫn chưa hề có công lý cho hàng ngàn nạn nhân vô tội.  Cộng sản thì luôn miệng chối,  chạy, và đổ tội cho Mỹ.  Chỉ mới đây chúng mới nhận là “trong lúc rút đi cấp bách, dã phải giết hai nghìn người”!!!  Có người bảo rằng, chuyện đã 50 năm, cần đi vào quên lãng.  Nhưng nếu như thế thì chúng ta đã vô tình thực hiện ý đồ của lũ sát nhân.  Dĩ nhiên chúng muốn ta quên cho chúng dễ dàng chối tội và tiếp tục ru ngủ, lừa mị chúng ta.  Chúng ta phải nhắc nhớ những nạn nhân vô tội và nỗi đau của họ.  Nhớ không phải để thù hận mà để hiểu và biết sự thật, để không vô hình chung bị lừa mị, để không vô tình tiếp tay cho giặc và để những gì đã xảy ra tại Huế không còn có thể xảy ra cho dân tộc nữa.  Và ngày nào có công lý và sự thật cho những người nạn nhân Tết Mậu Thân, vết thương sẽ có thể hàn gắn và trang sử có thể tự động lật qua.

Xin thắp một nén hương tưởng niệm đồng bào đã bị thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968. In Memory of the victims of the Huê 1968 massacre.
  WITNESS TO HISTORY 

The following account of the author’s adventures during the harrowing days of the Tet Offensive in Vietnam in 1968 could as well be placed under a heading of “Remembering Vietnam” or “Life in the Foreign Service.” But let Ambassador Bullington tell his tale as a “Witness to History,” the journals newly inaugurated series./p>

~ Ed.

[Religion and Romance in Wartime Vietnam]

By J. R. Bullington

How do you say “Bless you, my son” in French? 
This was not a phrase I had learned in my French training at the Foreign Service Institute. Nor, as an East Tennessee hillbilly raised in the Church of Christ, was the vocabulary of a Catholic priest something I had ever imagined using.

Yet, on a dreary January 31, 1968, as I pulled a soutane, a black priest’s gown, over my head, that was one of many urgent questions that raced through my mind. I was in Hue; the Tet Offensive had begun the day before; and the North Vietnamese army (NVA) had occupied the city. It was a strange, grim situation for a young diplomat.

Vietnam was my first overseas assignment in the Foreign Service, and I was nearing the end of my third tour of duty in that country. How I came to be a make-believe French priest behind the North Vietnamese lines in Hue during the 1968 Tet Offensive is a complicated story.

Hue: A Special Sort of Place 
I was first assigned to the Consulate at Hue in 1965, as a “provincial reporting officer” covering political, security, and economic developments in the country’s five northernmost provinces, the I Corps — universally called “Eye” Corps — region.

Hue was a special sort of place. As Washington Post correspondent Don Oberdorfer put it in his 1971 book, Tet!, “Its bittersweet charm and faded glory were deeply affecting to almost every visitor. The city radiated a haunting attraction difficult to define or explain.”

A Vietnamese writer expressed it more floridly:

And here, see Hue! with its craftsmen, singers, scholars and maidens. Who can forget the disturbing memory of those dainty figures — those living flowers? How enchanting in the moonlight, to walk leisurely along the River of Perfumes, the soul open to poetry, the heart bursting forth with tenderness. Hue! Refuge of romantic loves.

(From Les Hommes d’au-dela du Sud ,
by Tran Van Tung, Editions de la Baconnière, 1957.)

Hue was not without its darker side. In 1966, the Consulate was attacked and burned by a largely student mob in one of the Buddhist-led political upheavals centered in Hue which so destabilized the South Vietnamese governments of that period. I was transferred at that time to the Embassy in Saigon as staff aide to Ambassador Henry Cabot Lodge.

By the time my assignment with Ambassador Lodge ended, I was finding Vietnam, and especially its lovely young women, very much to my liking. Moreover, from a career point of view, I relished the idea of being at the very center of the principal American national security and foreign policy issue of the time; and I enjoyed the wartime camaraderie of good friends. I had seen plenty of death and destruction and had even been involved in a few close calls myself. But like many young men, I suppose I somehow felt I was invulnerable.

monks 
Bhuddist monks demonstrate in front of U.S. Consulate
Hue, 1966

button
demo 
Student demonstrators in front of U.S. Consulate
Hue, 1966

button
cons
Students burning U.S. Consulate — Hue, 1966

On to Quang Tri 
So, after a brief home leave, I volunteered in 1967 for another tour of duty in Vietnam. This time I was assigned to work in the pacification program, known as CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support). This was the integrated military and civilian effort to destroy the Viet Cong infrastructure and build stronger support for the South Vietnamese government in the countryside.

Because my work with Ambassador Lodge had enabled me to get to know all the senior U.S. leaders in Saigon, I was able to influence the location of my assignment to a considerable degree. Since I very much wanted to return to I Corps, and there was nothing immediately available in Hue, I chose to go to Quang Tri, located just north of Hue along the DMZ, the demilitarized zone set up by the 1954 Geneva Accords to separate the Communist North from the pro-Western South.

Unfortunately, by 1967 the demilitarized zone had become very militarized, indeed, and Quang Tri Province was the scene of more heavy combat than any of the forty-three other provinces in the country. The Marines’ great battle at Khe Sanh is the best known, but there were many other major battles at places like Con Thien, the Rockpile, Dong Ha, Cam Lo, Quang Tri City, and all along Route 9, leading west from its intersection with Route 1 near the South China Sea to Tchepone in southern Laos, an important junction on the Ho Chi Minh Trail.

My principal job in Quang Tri was organizing assistance to the tens of thousands of refugees generated by the heavy fighting. I was also responsible for assisting the provincial government with such economic development activities as were possible under the circumstances. It was exciting, challenging work.

Romantic Involvement 
My main reason for wanting to return to I Corps, however, was not to be close to the combat, but to be close to a certain young lady. Tuy-Cam was a Foreign Service National employee at the Consulate in Hue when I arrived there in 1965. We had worked together and had shared a good deal of excitement and danger during the political turbulence. She was my interpreter when I called on some of the Buddhist leaders who spoke no French, including The Venerable Tri Quang, their political chief.

After the burning of the Consulate, she was also transferred to Saigon, and our courtship continued to develop. However, during a period when the romance waned a bit, she requested a transfer to Danang, where the former Hue Consulate had been re-opened as a Consulate General.

It was the prospect of reviving this romance, together with a rejection by an American girlfriend, which largely motivated me to volunteer for another tour in Vietnam and to arrange that it be in I Corps. Since Danang was the Corps headquarters, I had good official as well as personal reasons to visit it often from Quang Tri.

Soon the romance flourished, and by the end of 1967 Tuy-Cam and I were engaged to be married. The marriage was to be at her home in Hue in March 1968, just before my tour of duty was to end.

The Tet holidays that were to begin on January 30 were especially important for Tuy-Cam and her family. Tet, the Chinese lunar New Year, is the principal Vietnamese holiday, sort of like Thanksgiving, Christmas, New Year’s Eve, and everyone’s birthday all combined; and this was to be her last Tet at home before embarking on a new life in a far-away land. Tuy-Cam came home from Danang to Hue. I came down from Quang Tri to join her.

In Quang Tri, intelligence reports had warned of the possibility of a large-scale enemy attack around the Tet period, but intelligence of pending attacks was commonplace in that beleaguered province. Moreover, it was expected either before or after, not during, the three-day holiday period, when both sides had traditionally declared a truce.

Arrival in Hue 
Nonetheless, on arriving in Hue via the Air America afternoon shuttle on January 30, I checked with some of the Americans there to see if anything unusual was afoot. They had heard reports similar to those in Quang Tri, but didn’t seem to take them too seriously. So Tuy-Cam and I continued with our plans for a holiday dinner that evening at her house.

During my time in Quang Tri I had gotten to know a Franco-Vietnamese resident of Hue, Albert Istivie, whose company ran the electric power plants in both cities. I had helped him out on a couple of occasions by putting him on Air America flights when he needed to return from Quang Tri to Hue and the road was closed by fighting. He had invited me to stay in a guest room at the power plant when I visited Hue, so I stopped there to get the key and deposit my bag before proceeding to Tuy-Cam’s house for dinner.

Joining us for the dinner were two other Americans: Steve Haukness, a Foreign Service communicator at the Danang Consulate who worked with Tuy-Cam and had come to Hue for a bit of tourism in the old capital of the Vietnamese Emperors, and Steve Miller, a Foreign Service Officer classmate of mine who was assigned to Hue on loan to the U.S. Information Agency as its representative in the Province. Steve Haukness was to spend the night at Steve Miller’s house.

The dinner was pleasant, with some great Vietnamese food and several bottles of Ba Muoi Ba, one of the local beers. Tuy-Cam’s brothers were also there: An, an Army lieutenant assigned to the provincial headquarters, and Long, a Vietnamese Air Force Academy cadet home on leave.

During the dinner, one of Tuy-Cam’s elderly uncles warned that he had heard the enemy was planning to attack the city that night, but the rest of us were either unconcerned or fatalistic. Most were veterans of other Communist attacks — raids, really — which involved fighting and danger, to be sure, but which were over by dawn as the enemy retreated to their hideouts in the countryside to avoid the overwhelming firepower American and South Vietnamese forces could bring to bear on troops in fixed positions during daylight.

An Unpeaceful Night 
So about 11 p.m. I returned to my room at the power plant; the two other Americans went to Steve Miller’s house; and Tuy-Cam and her family settled in for the night.

Whump! Whump! Whump!

About 3:00 a.m. my sound sleep was interrupted by the familiar sound of incoming mortar rounds. I could also hear small arms fire coming from several directions. Though of course I didn’t know it at the time, three full North Vietnamese infantry regiments, plus several rocket and combat engineer battalions, supported by various Viet Cong local force units, were overrunning and occupying the city. The only installations they failed to capture were the South Vietnamese First Division headquarters compound in the northern part of the city and the compound occupied by about 100 American military advisers on the south side.

Since the mortars were not in my immediate vicinity, and realizing I was in a relatively safe place under the circumstances, I went back to sleep.

When I awoke not long after daylight, the sounds of fighting had died down. Thinking this meant the enemy forces had as usual withdrawn after their raid, I started out the door of the guest room. However, I saw my friend Albert in the power plant, which was across a large courtyard from the guest room. He frantically motioned for me to get back inside. Clearly, something was very wrong.

I retreated back inside and waited. And waited. Eventually, with no knowledge of what was going on, the waiting grew unbearable. My curiosity got the better of my prudence, and about 10:30 I ventured outside again, walking across the courtyard and into the power plant. There I found Albert.

“What are you doing here?”, he whispered with a shocked expression. “I told you to stay inside. They’re here, the North Vietnamese are right here, they’re all around us. You’d better get back in that room and stay there!”

I hastened to comply.

A Grave Situation 
For the first time I began to guess at the gravity of the situation. I stayed in the small guest room the rest of the day, fearful that any moment could bring a knock on the door and my capture. My vehicle, an International Scout with the familiar U.S. Agency for International Development handclasp insignia on its doors, was parked just outside, advertising that an American was probably somewhere close by.

The knock, when it finally came about 3:00 p.m., turned out to be Albert’s. He brought me a ham sandwich and a bottle of Biere LaRue. Although I hadn’t had anything to eat or drink all day, I was mostly hungry for information. Albert explained the situation as best he knew it, including the fact that the North Vietnamese had set up a company headquarters at the power plant and were digging in, with the apparent intention of staying indefinitely.

“It seems they’ve taken everything,” he said, “the whole city of Hue. You can’t stay here. If they find you, it would be bad for both of us.”
His words made good sense. “But where should I go?”

Albert said he would try to make arrangements and come back at 5:30, when I was to listen for four knocks on the door, a signal to spare me the terror of thinking it might be the North Vietnamese.

The knocks came at the appointed time. Albert said that he had arranged for me to go to the nearby house of a French priest. He would return at 6:00, he said, and we worked out a plan of movement.

Promptly at 6:00, the four knocks came again. I eased open the door and watched Albert move across the courtyard. When he reached the power plant, he looked back at one of the buildings where the NVA soldiers were located, then moved away without signaling me to follow. Something had gone wrong.

Escape from the Power Plant 
Albert returned in about half an hour. He explained that one of the NVA had been looking out the window, but now they appeared to be busy cooking and eating dinner, so we would make another attempt. This time, after Albert crossed the courtyard, he signaled me to come ahead. It was clear that the NVA could see me if they looked, but I fervently hoped they would assume I was one of the Frenchmen who worked at the power plant rather than the owner of the American-marked vehicle parked nearby. So I tried to walk deliberately, as if I belonged there, betraying no haste or panic.

I got to the other side of the courtyard, where Albert was waiting just out of sight of the NVA. He hastily led me out of the power plant compound and over a couple of back yard walls to the house of Father Cressonier, a priest of the Société des Missions Étrangères, a group that had been in Vietnam for over thirty years.

Father Cressonier took me into the house and introduced me to his other guest, Father Poncet, a younger priest who had recently been forced to flee his post at Khe Sanh because of the fighting there. ”

“You’re welcome here as long as you need to hide,” Father Cressonier said. “But I’m sure your Marines will retake this area by tomorrow or the next day, and you’ll be safe.”

I shared his optimism, little thinking that this was only the beginning of the ordeal.

Holy Orders 
“Here, try this on,” Father Cressonier urged, handing me one of his soutanes. Fortunately, he was a big man, like me, so the gown looked as though it might have been mine. “If anyone asks,” he said, “we’ll claim you’re a Canadian priest here for a visit.” My French was fairly good, but it would have been obvious to anyone fluent in the language that I was not a Frenchman.

The next morning we looked out the second floor window at a huge Viet Cong flag flying over the Citadel, the mile-square fortress-like palace of the Vietnamese Emperors across the Perfume River on the north side of the city. It had replaced the equally huge South Vietnamese Government flag that normally flew there. This was striking evidence that the bulk of the city was in enemy hands.

For the next couple of days we remained optimistic that the U.S. Marines and South Vietnamese government forces would soon retake the city. After all, more than any other city, Hue embodied Vietnamese culture, history, traditions, and sense of national identity. Its loss could well mean the loss of the war. Surely, we thought, the American and Vietnamese high commands would not let it remain under enemy occupation for any length of time.

We failed to imagine, however, the strength of the North Vietnamese forces in the city, the near-totality of their initial victory, or the confusion, misjudgment, and sometimes ineptitude of the American command and the Saigon authorities. Expecting a large-scale counter-attack, we would have been astounded to learn that the Marines initially sent a lone company, then a single battalion, and finally only two battalions for the immense task of clearing the dug-in enemy force of at least six battalions from the south side of the city. (For the definitive military history of the Battle of Hue, see Fire in the Streets: The Battle for Hue, Tet 1968, by Eric Hammel, Contemporary Books, 1991.)

Awaiting Liberation 
By the third day, as we realized liberation was not imminent, our spirits fell. Fear and anticipation were replaced by gnawing anxiety and boredom. We could sometimes see NVA soldiers and groups of civilian refugees moving along the streets, but we never left the house, both to avoid being noticed and to escape bullets and occasional mortar and artillery rounds that fell in the neighborhood. Sometimes, when the shelling became intense, we would move to the relative safety of a closet under the stairwell leading to the second floor. Fortunately, that’s where we were when the house was hit by a large shell, possibly a 105mm artillery round. The roof and walls of the second floor were mostly blown away, making a two-story house one-story. We were shaken but unhurt.

My greatest fear was not artillery, however, but a knock on the door by Communist cadre who I guessed (correctly, it developed) would be out organizing the city’s inhabitants and looking for enemies. That knock never came. Subsequently, it was discovered that in the initial stages of the occupation the cadres were instructed to leave French residents alone. (France was perceived as being opposed to American involvement in the war.) Albert and the French priests had no way of knowing this, of course; and in any case this benign attitude would have changed if it had been discovered that they were hiding an American. It was extraordinarily brave and generous of them to take me in.

Meanwhile, other American civilians in Hue were not so lucky. After the battle, the body of my friend Steve Miller was found in a field behind a Catholic Seminary that had been used as a prisoner collection point. His arms had been tied, and he was shot in the back of the head. Steve Haukness was never found. We assume he was killed somewhere outside of the city.

Beyond my own immediate danger, I was also very worried about Tuy-Cam. As an employee of the U.S. Government, she would be in as much danger as I would if discovered. Indeed, this fear was well placed. During the occupation of Hue, there were some 2,000 documented cases of execution and mass murder of Vietnamese civilians whom the Communists saw as enemies. These included South Vietnamese government employees, politicians, teachers, intellectuals, business people and religious leaders, as well as U.S. Government employees. Although cadre came to her house, since Tuy-Cam was working in Danang at the time, she apparently was not on the hit lists for Hue that had been carefully compiled in advance of the attack.

The Marines Arrive 
Finally, on the morning of February 8, liberation was at hand.

“Where the hell is Jones’ squad?” This was the first English I had heard for nine days, except for a small battery radio that would occasionally bring in the U.S. Armed Forces station from Saigon. It was coming from no more than a couple of blocks away. I climbed to the rubble of the blown-away second floor and saw them: honest-to-God U.S. Marines, cautiously moving our way.

They reached the house in a quarter of an hour. When I introduced myself, the sergeant said, “Oh yeah. They told us there might be some sort of VIP hiding around here. I’d better call the captain.”

Soon the company commander, Capt. Ron Christmas, arrived on the scene. (Capt. Christmas, one of the heroes of the Battle of Hue, went on to a distinguished Marine Corps career, eventually retiring as a Lieutenant General.) After giving him all the information the Frenchmen and I had about the situation in the immediate area, we had some of the Marines wrap me in a blanket and carry me out as if I were a wounded Marine. This was so that the neighbors wouldn’t see that the priests had been hiding me.

I had invited the priests to leave with me, but they declined, saying their duty was to stay and tend to the spiritual needs of their flock, especially now that they could get out of the house and start working again.

When I next saw Albert several days later, he told me that Father Cressonier and Father Poncet had gone out the next day to look after a large group of refugees gathered in a nearby church. On the way back, the priests were stopped by a group of Viet Cong, who shot them and took their jeep. Albert buried them in the back yard of Father Cressonier’s house.

The Marines took me to the American military advisers’ compound, from where I contacted CORDS headquarters in Danang to let them know I was safe. My superiors there told me to come to Danang on the next available helicopter, which turned out to be the following day. I was glad enough to do this, since I hadn’t had a bath, a change of clothes or a proper meal in ten days.

Back to Hue 
After a bit of recuperation in Danang, I was anxious to get back to Hue to look for Tuy-Cam. The area where her house was located, I had learned before leaving Hue, was still firmly in enemy hands but would probably be cleared sometime in the next few days. My bosses told me not to return, since the battle was still raging (it would continue until February 24), and I would not only be in danger but in the way. This was perfectly logical but emotionally unacceptable. I knew my way around well enough to go to the air base and hitch an unauthorized ride on a chopper to Hue.

When I got off the chopper on the morning of February 14 — Valentines Day! — at a makeshift landing pad the Marines had cleared near Hue University, I noticed a group of Vietnamese civilians nearby. As I approached them, Tuy-Cam suddenly emerged, hurrying toward me. I could hardly believe it was she at first, but it clearly was. It was a powerfully emotional moment, since neither of us had known until then whether the other was still alive.

Tuy-Cam and her family had managed to get to safety in a nearby refugee area the day before and she had come to the helicopter pad to get a flight back to Danang.

The Family Saga 
Tuy-Cam’s family had stayed at home for the first eight days of the occupation, with her two brothers — the army lieutenant and the air force academy cadet — hiding in the attic. They had been visited daily by VC cadre and NVA soldiers demanding food, but the brothers were not not discovered. However, fighting in the area intensified, and NVA troops began digging defensive positions along the railroad just behind the house. With mortar and artillery rounds falling closer and closer, they decided to flee, along with some other refugees from the neighborhood.

The group got as far as a pagoda just west of the city. There they encountered VC cadre. The two brothers were arrested and taken away, never to be seen or heard of again. A friendly monk who knew the family hid Tuy-Cam under the altar. After the VC left, the family returned to Hue and the refugee camp near the University.

Following our reunion at the helicopter pad, Tuy-Cam and I flew back to Danang, and I made a quick trip to Quang Tri. Three days later, I went back to Danang and picked up Tuy-Cam and some supplies for her family, and the two of us again returned to Hue. We arrived just in time for an enemy counter-attack and had a close brush with a sniper; but after what we had already experienced it was a minor affair.

[Truong Tien Bridge across Perfume River in Hue, destroyed during Tet Offensive, 1968]
Truong Tien Bridge across Perfume River in Hue, destroyed during Tet Offensive, 1968

Scenes of Death and Destruction 
As Tuy-Cam and I moved around the more or less secured parts of the once-beautiful city of Hue during the next few days, we were deeply moved by the scenes of death and destruction.

Trinh Cong Son, a famous Vietnamese songwriter/poet and native of Hue who was there during and after the battle, expressed his feelings about these scenes this way:

The bodies of the dead float on the river.
They lie exposed in the fields,
On the housetops of the city
And in the winding streets.

The bodies of the dead lie lonely
Under the roofs of the pagodas,
In the aisles of the churches,
On the floors of the deserted houses.

The bodies of the dead lie all around, in those cold rains.
Alongside the bodies of the old and weak
Lie the bodies of the young and innocent.
Which body is the body of my little sister?

(Trinh Cong Son, “Ballad to the Dead: Hue 1968”)

During the Battle of Hue City, for which the First Marine Regiment received the Presidential Unit Citation, there were 142 Marines killed and 857 wounded. The South Vietnamese armed forces suffered 384 killed and 1,800 wounded. Enemy losses were estimated at 5,113 killed. Some 2,000 Vietnamese civilians were executed by the Communists, and several hundred more were killed in the ebb and flow of combat.

When the fighting largely ended in the southern part of the city, and after getting her family resettled as best we could, Tuy-Cam returned to Danang and I went back to Quang Tri. (Both of these cities were also attacked at the beginning of the Tet Offensive, but these attacks were quickly repulsed.)

[Jim and Tuy-Cam Bullington at their wedding March 16, 1968, at U.S. Consulate General, Danang] Jim and Tuy-Cam Bullington at their wedding, U.S. Consulate General, Danang

We were married on March 16, not in Hue, now largely destroyed and still insecure, but at the Consulate General in Danang. We left Vietnam two weeks later, first for temporary duty on the Vietnam Desk in the State Department, and then to my ongoing assignment for mid-career training at Harvard’s Kennedy School of Government.

After thirty years, we are still happily married. Though we had twenty-one more years in the Foreign Service and several exciting adventures, there was nothing — thank God! — so intense and memorable as our days in Hue during the 1968 Tet Offensive. For our survival, we are everlastingly grateful to Albert Istivie, Fathers Cressonier and Poncet, Thich Chon Thuc (who hid Tuy-Cam at the pagoda), and to the brave U.S. Marines who fought and eventually won the Battle of Hue City.

© Copyright 1998 by J.R. Bullington. All rights reserved.

 Tuy-Cam’s brothers, Army Lieutenant Than-trong An (above) and Air Force Academy Cadet Than-trong Long (opposite). Both were captured and killed by Communists forces during
the Tet offensive.

Posted in kể chuyện, Remembrance, Uncategorized, victims of communism | Tagged , , , , | Leave a comment

33 Năm Tưởng Niệm và Lễ Công Bố Giải Thưởng Tinh Thần Trần Văn Bá 2018

Quận Cam, thủ đô của người Việt tị nạn, lúc nào cũng có nhiều sinh hoạt, nhất là những ngày cuối tuần.  Chủ nhật 21 tháng Giêng vừa qua là một ngày bận rộn với rất nhiều sinh hoạt, đáng kể là buổi lễ tưởng niệm các anh hùng tử sĩ Hoàng Sa 1974 tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ và  lễ giỗ thứ 33 của anh hùng Trần Văn Bá tại phòng sinh hoạt cộng đồng của thành phố Westminster.  Đây cũng là buổi lễ tuyên bố giải thưởng tinh thần mang tên anh cho năm 2018.

Từ bên ngoài phòng khánh tiết, người ta thấy có tấm phướng mang chân dung Trần Văn Bá với các dòng chữ “Tưởng Niệm Anh Hùng Trần Văn Bá – Chúng Tôi Không Quên Anh” cùng biểu ngữ Chào Mừng Quan Khách.  Bên trong phòng hội trang hoàng rất trang nhã và trân trọng.  Bên cạnh sân khấu là bàn thờ Trần Văn Bá với lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.  Suốt buổi, đồng hương nối tiếp nhau thắp nhang nghi ngút.

 

Trong thành phần quan khách, người viết ghi nhận có sự hiện diện của thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí , Nghị Viên Phát Bùi và Thu-Hà Nguyễn của Garden Grove, Ủy Viên Giáo Dục của Học Khu Westminster Nguyễn Thế Thủy và Jamison Power, cựu dân biểu tiểu bang CA gốc Đại Hàn bà Young O. Kim, Đại Diện của Dân Biểu Liên Bang Lou Correa và Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Janet Nguyễn,  Đại Diện các Chính Đảng, Đoàn Thể, Hội Đoàn, nhà văn quân đội Tô Văn Cấp, vị chủ nhiệm báo KBC Hải Ngoại, phóng viên các báo và cơ quan truyền hình tại dịa phương cùng rất nhiều nhân sĩ trong cộng đồng, các cựu quân nhân, cán, chính QLVNCH. Đặc biệt có sự tham gia và yểm trợ của rất nhiều các giới trẻ tại hải ngoại.

 

Thành phần ban tổ chức năm nay gồm các anh em thân hữu của anh Trần Văn Bá tại Âu châu.  Và như năm ngoái, có đại diện đến từ Pháp.  Năm nay là anh Nguyễn Ngọc Bách.  Đặc biệt năm nay, buổi tổ chức được sự phối hợp của thành phần sinh viên trẻ như anh Billy Lê, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Nam California và cô Sarah Hồ, đương kiêm Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên tại Nam California.  Theo người viết, đây là một sự phối hợp vô cùng ý nghĩa trong mục tiêu củng cố và phát huy tinh thần Trần Văn Bá.  Khi người trẻ tham gia vào việc tổ chức, họ sẽ biết nhiều hơn về Trần Văn Bá và lòng yêu nước cùng tinh thần bất khuất của anh. Họ sẽ noi gương anh Bá để tự tìm cho mình một con đường, một phương thức để thể hiện lòng yêu nước.  Và cũng chính họ sẽ là những người tiếp tục phát huy tinh thần của Trần Văn Bá.

 

 

 

 

Anh Billy Lê đã giữ vai trò của người điều hợp chương trình bằng song ngữ, và cô Sarah Hồ đã tuyên đọc tiểu sử Trần Văn Bá và cảm tưởng đaị diện giới trẻ.

Sau phần dâng hương, các vị dân cử và quan khách đã lần lượt phát biểu cảm tưởng và xen kẻ là phần văn nghệ do Ban Tù Ca Xuân Điềm đảm trách.

Vì buổi lễ giỗ thứ 33 của anh Trần Văn Bá cũng là lễ tuyên bố giải thưởng mang tinh thần của anh, quan khách đã được theo dõi trực tuyến những cuộc phỏng vấn, nói chuyện thẳng với các nhân vật được đề cử từ trong nước như Trịnh Bá Phương từ Hà Nội, là con trai của Bà Cấn Thị Thêu, ngoại trừ anh Trần Huỳnh Duy Thức và Đinh Nguyên Kha vì đang ở tù.  Mẹ của tù nhân lương tâm Đinh Nguyên Kha cũng tham gia trao đổi cùng đồng bào ở Mỹ.   Được biết, ngày trước buổi tổ chức, khi liên lạc để phỏng vấn trực tiếp người trong nước thì không gặp trở ngại gì.  Nhưng vào ngay ngày tổ chức tại Mỹ, khi sắp sửa lên hệ thống truyền hình trực tiếp thì bị công an cộng sản Việt Nam xông vào nhà, đập phá dữ dội để ngăn cản.  Điều đó cho thấy sự sợ hãi của chế độ khi nghe tên Trần Văn Bá dù họ đã giết hại anh hơn 30 năm trước, như tinh thần và khí phách của anh vẫn làm nhà cầm quyền run sợ.  Và chỉ có việt cộng mới ra sức đánh phá để không cho buổi tổ chức giải thưởng mang tên Trần Văn Bá được thành công.

 

Một quan khách muốn biết tuổi trẻ trong nước, đồng bào trong nước có đã từng nghe về tên tuổi của Trần Văn Bá.  Anh Trịnh Bá Phương đã trả lời rằng vì sự bưng bít thông tin của nhà nước CSVN, không mấy người sinh sau 1985 biết đến anh Bá.  Nhưng, qua giải thưởng tinh thần mang tên anh, tuổi trẻ và dân chúng đang biết nhiều hơn về anh.  Thật vậy,  một vị quan khách sau buổi tổ chức đã nhắn với Ban Tổ Chức rằng, ông ước mong anh em tiếp tục tổ chức những lễ giỗ hằng năm với sự tiếp tay của tuổi trẻ khắp nơi để nuôi dưỡng tinh thần Trần Văn Bá và hướng dẫn tuổi trẻ nối bước chân anh.

 

Buổi lễ giỗ và tuyên bố giải thưởng tinh thần Trần Văn Bá đã chấm dứt lúc 5g chiều  cùng ngày trong bầu không khí vô cùng cảm động và cùng lúc, mang nhiều hy vọng.

 

Xin cảm ơn Ban Tổ Chức và xin hẹn trong sinh hoạt tới.

 

Phóng viên VTKH ghi vội.

Posted in Remembrance - Tưởng Niệm, Tran Van Ba, Uncategorized, victims of communism | Tagged , , | Leave a comment

Lễ Giỗ và Lễ Tuyên Bố Giải Thưởng Tinh Thần Trần Văn Bá

Posted in Remembrance - Tưởng Niệm, Tran Van Ba, Uncategorized | Tagged , , | Leave a comment

Xuân Mậu Thân 

 

Bài thơ viết từ Tết Mậu Thân 1968 và phổ nhạc năm 2018 để tưởng niệm nạn nhân bị thảm sát Tết Mậu Thân.

 

Mùa Xuân tang tóc về thành nội

Những hố hầm vùi chôn xác anh em

Bắc, Trung,Nam thảy đều cùng một mẹ

Người ơi! Sao không máu chảy ruột mềm

 

Huế, Kim Long, Trường Tiền, Gia Hội

Hương Giang bao giờ gội sạch hết tai ương

Những nấm mồ chôn dân, chôn nguồn, chôn cội

Sao không vùi chôn chủ nghĩa điên cuồng?

 

Pháo nổ, bom vang Saigon, Gia Định

Đứng dậy, ngẩng đầu xếp lại bút nghiêng

Áo trắng học trò thay màu áo lính

Mơ làm trai hùng, mong non nước bình yên

 

Từ độ ấy anh đi vào chinh chiến

Vang trong hồn rền tiếng gọi non sông

Em tay vẫy, lệ vui chào đưa tiễn

Noi gương Cha Ông, anh viết tiếp trang sử hùng

 

Hẹn non nước thanh bình anh quay lại

Nhìn đồng lúa vàng, hoa đua nở khắp quê hương

Đợi anh nhé! Nụ cười Xuân tươi ấy

Ra nơi chiến trường, anh sẽ bắn đạn yêu thương

HCA!

Posted in Huynh Cong Anh, Remembrance, Remembrance - Tưởng Niệm, Spring, Tho / Poetry, Uncategorized, victims of communism, Xuan | Tagged , , , , , | Leave a comment

Kết Quả Sơ Khởi Cuộc Bầu Chọn Giải Thưởng Tinh Thần Trần Văn Bá 2018

Cuộc bầu chọn đã chấm dứt ;
Xin thông bio kết quả như sau, trên 467 phiếu chọn, trong và ngoài nước :
Số người chọn %
Đinh Nguyên Kha 49 10%
LM Nguyễn Duy Tân 42 9%
Trần Huỳnh Duy Thức 139 30%
Trần Thị Nga 207 44%
Trịnh Bá Phương 30 6%
Tổng cộng 467 100%

Liên Kết Tuổi Trẻ xin chào mừng tất cả ứng viên được đề cử.  Tất cả quý vị đều là những người đã can đảm gióng tiếng nói của lương tâm trước bạo quyền cộng sản, bất chấp đàn áp, bất chấp tù tội.  Tinh thần của quý vị là Tinh Thần Trần Văn Bá.  Quý vị là những anh hùng trong mắt của dân tộc Việt Nam.

Posted in Patriotism, Remembrance, Remembrance - Tưởng Niệm, Tran Van Ba, Uncategorized | Leave a comment