“Người Việt” Giết Tiếng Việt!

        Captovan

          Người Việt viết tiếng Việt là chuyện dĩ nhiên, chỉ có Việt+ mới giết tiếng Việt, vì chúng nghĩ rằng nước Việt sẽ bị “háng-hóa” nên cái anh chàng họ Bùi kia sáng chế ra kiểu viết tiếng Việt cc (cải cách) như thêm chữ “ô” vào cái họ Bùi của hắn thành Buồi thì bậy bạ thật. Vậy mà Người Việt ở hải ngoại lại đang có khuynh hướng thích “háng hóa” như thẳng cha V+ họ Buồi kia thì quả tình là không thể ngửi thứ được.

Tôi rất “khoái” đựơc đọc các bài viết phê bình về ngôn ngữ “thổ tả” của V+ do người Việt yêu tiếng Việt đưa lên diễn đàn. Điển hình là ngày 9/12/2013, bạn Trần Quang đưa lên bài: “Chữ Nghĩa Sau 1975”. Rồi sau đó, bạn Vĩnh Can Canada đưa lên bài viết: “Nỗi Buồn Tiếng Việt”.

          Nội dung những bài viết này nêu lên những điều sai trong cách dùng tiếng Việt của bọn “đỉnh cáo trí tệ” “Xuống Hố Cả Nút” khiến người dân xuống hố cả nút theo. Hẳn nhiên các bạn Quang và Can đưa lên diễn đàn là có ý nhắc người Việt hải ngoại, đặc biệt tập thể cựu quân nhân phải tránh xa những con virus này, những con virus VC: “thân thương, tham quan, tiếp cận, khống chế, đánh giá cao v.v..” Tôi xin theo chân các bạn Can, Quang để nêu lên một vài trường hợp tôi đã thấy, để chúng ta mỗi người một tay chặn đứng mọi chữ VC “len lỏi” vào trong các tài liệu sách báo, các đặc san Quân Đội.

          Chắc chắn trong chúng ta không ai muốn thấy “tai nạn” này xảy ra, nhưng nó đã xẩy ra. Tôi gọi là “tai nạn” vì người viết vô tình, dễ tính, hoặc không biết, vì thế tôi xin góp ý để lạng lách cây viết cẩn thận hơn, không xảy ra “tai nạn” nữa.

Nếu xẩy ở trong các emails riêng tư qua lại trên diễn đàn thì cũng mau chóng qua đi, nhưng nếu có chữ VC trong các bài viết, trong sách báo, lại có cả trong những cuốn sách gọi là “dòng lịch sử” thì làm sao tẩy xóa? Tôi đã thấy bóng dáng chúng trong các  đặc san quân đội, tôi tha thiết xin các vị có trách nhiệm lưu ý cho.

Đây là một việc không dễ, một vài tên du kích “ấn tượng, thân thương” núp trong nhiều trăm trang giấy, trong rừng chữ thì làm sao phát giác?.

Các chủ bút BĐQ, TQLC Đa Hiệu, KBC “ra lệnh” mỗi anh trong BBT phải đọc qua ít nhất một lần khi có bài gửi đến và nhiệm vụ chính là “vạch lá tìm sâu” VC, vậy mà cũng còn sót đấy, thế thì với tập tài liệu ngàn trang, hẳn là ban biên soạn sẽ vất vả lắm đấy, tôi không biết có bao nhiêu anh làm công việc này, nhưng chắc có anh phải ngồi tâm tình 12/24 giờ, ngồi thâu đêm với cô “thợ giặt mặt vuông” để nhặt cho hết rác VC thì mới có thể lộng ngôn gọi là tuyệt phẩm được, còn không.. thì không thể là “tuyệt” mà chỉ là “tiệt” phẩm. Giả sử sau này khi sách in ra mà còn gặp chữ “thân thương” thì buồn quá!

                                      ***

          Người Việt chọn tự do, tự do tư hữu, là ruộng của ai người đó cày, nên người Việt viết tiếng Việt. Việt+ chọn +Sản, nghĩa là cộng tất cả tài sản cá nhân lại để chơi chung hưởng chung, tất cả cày chung một miếng ruộng, sản phẩm tạo ra đem gửi nhà trẻ quốc doanh. Cái chế độ ảo tưởng +S đó nó đã “chết-mother” nó từ lâu rồi, chết ngay từ cái gốc, chết từ nơi ông tổ khơi mào ra nó, nó cũng “chết-father” nó ở cái XHCNVN từ lâu rồi, chỉ còn sót lại cái đuôi “định hướng XHCN”. Nhưng ngôn ngữ quái đản mà chúng tạo ra vẫn còn di hại mãi về sau, nó như những mầm ung thư giết chết tiếng Việt. Nhưng có một số người Việt tỵ nạn CS hay bỏ chạy V+ để tha phương cầu thực thì không chịu viết tiếng Việt, thấy V+ đít đỏ tưởng nó chín nên vẫn cứ nói theo, viết theo những thứ tiếng khỉ gió đó: Người Việt Giết Tiếng Việt là vậy.

 Nếu là chuyện cá nhân, theo voi nhai bã mía thì kệ .. họ, nhưng là truyền thông Tự Do mà theo đuôi ngôn ngữ V+ thì ẹ quá, mang vi trùng lao gieo rắc đó đây những mần mống bệnh hoạn giết chết tiếng Việt thì “thu em hỏi”  (thủm) quá.

          Có người nói rằng vấn nạn này nó như bệnh nan y rồi, hết thuốc chữa, cứ mở radio ra mà nghe một số xứơng ngôn viên các đài phát thanh, ông xướng, bà xướng, cô xướng, cậu xướng họ đang xướng với nhau bằng những chữ quái đản như “quá trình, tham quan, hoành tráng, rốt ráo, khuyến mãi, khống chế, cực kỳ, thiếu đói v.v..”. Ông Vũ Ki của đài SG-Bé mà cà-kê-dê-ngỗng tin tức trên radio thì có bao nhiêu chữ “mới” ông dùng hết. Ông Nguyễn Có Công thì đọc tin tức:

 “Nếu Syria bị đánh, họ sẽ chống trả quyết liệt, trong quá trình chống trả ấy sẽ khiến Hoa K không giải quyết được rốt ráo vấn đề”.

Muốn hiểu rõ “quá trình” là gì thì hãy đến trung tâm văn hóa Hồng Bàng mà hỏi, đừng hỏi thầy cô giáo dậy tiếng Việt, mà hỏi ngay các em đang bập bẹ học tiếng Việt thì các em sẽ giải thích rõ ràng như thế này:

-Quá: là qua rồi, cũ rồi. Thí thụ như quá cố, quá vãng, quá khứ v.v..

Trình: là đường đi, hành trình, đăng trình.

Quá trình là diễn ra trong quá khứ, xin nghe bé tâm sự:

           Sáng nay em ăn đỗ (đậu), trong quá trình tiêu hóa thức ăn ở dạ dày, đậu phát sinh ra hơi nên bây giờ bé tức bụng, em muốn đánh rắm, muốn pupu….

Quá trình là chuyện đã xẩy ra trong quá khứ, tức là sáng nay, còn bây giờ là hiện tại em đang muốn pupu”.

          Các em đã giải thích rồi đấy nhé, các ông, bà, cô, bác, cậu, mợ, chú, dì, mi, mày, bay phải hiểu cho rằng “quá trình” chỉ dùng cho những diễn tiến đã xảy ra trong quá khứ mà thôi không bao giờ được phép dùng cho hiện tại và tương lai. V+ dùng “quá trình” cho bất cứ thời gian nào, nó dốt nó “say so”, vậy thì đừng dốt theo nó. Nếu không biết thì đừng “quá trình” nữa mà hãy dùng những chữ dễ hiểu, thông dụng, dễ dùng cho bất cứ thời gian nào, đó là: “trong lúc, trong khi, trong thời gian, lúc mà, tiến trình v.v…”.

          Xin đưa ra một thí dụ bà nhà than phiền ông nhà cho dễ hiểu, dễ nhớ:

           Đêm qua trong lúc (quá trình) em đang ngủ say thì anh đụng chạm vào.. làm cho em thức giấc, bực cả cái mình. Bây giờ trong khi(quá trình) em thức thì anh lại nằm ỳ  ra đó làm em khó chịu. Lần sau, lúc mà (quá trình) em đang ngủ thì anh đừng có làm phiền người bên cạnh đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi nữa à nha..

          Các cô cậu xướng ngôn thử nhét cái “quá trình” vào câu trên xem nó ra cái gì?

Những xướng ngôn viên khi đọc bản tin thì đã xen vào những tiếng lạ tai, khó nghe, khi đọc quảng cáo thì cứ tự nhiên như người “Hà-Lội”, như ngừơi của thành Hồ, cứ “hoành tráng, khuyến mãi” loạn cào cào cả lên. Lão bà-bà Huỳnh Qương quảng cáo rằng:

Tết Trung Thu đã được tổ chức trong khu Phước Lộc Thọ rất là HOÀNH TRÁNG, các loại bánh trông rất ẤN TỰƠNG và có chương trình KHUYẾN MÃI”.!!!

Tôi hưởng tết Trung Thu từ ngày mặc quần đùi, thò lò mũi, rước đèn bằng loon sữa bò cho đến nay đã quá 7 bó mà chưa bao giờ nghe cái tên “Trung Thu Hoành Tráng”! Thế còn “khuyến mãi” là gì nhỉ? Nghe “khuyến mãi” mà tưởng chữ thu ngắn của “khuyến khích mãi dâm”. Thà nói tiếng Mỹ là đít-cao, tiếng Việt là bớt giá, hạ giá có phải dễ nghe không nào?

 Huỳnh Qương là một ca sĩ thanh sắc vẹn toàn, khó có ai bì kịp, trong vai trò xướng ngôn viên, cô là ngừơi học cao hiểu rộng, nhưng chỉ vì vô ý tiếp xúc với virus Vicoism hoành tráng, khuyến mãi mà cô bị biến tướng thành lão bà-bà, thật đáng tiếc.

Nhưng cái này mới khiếp đảm:

Ngày 25/7/2018, trên Truyền hình băng tần 57…hai nữ xướng ngôn viên thật xinh đẹp, mặt hoa da phấn, ăn và “lói nưu noát”, mượn lưỡi VC từ lúc nào hay các cô mới trốn… làm từ XHCN chạy sang Hoa Kỳ cầu thực, vẫn giữ nghề cũ xướng ngôn, mỗi khi chấm dứt một chương trình nào đó, thay vì nói một cách dễ hiểu lịch sự sạch sẽ là: “chương trình đến đây là chấm dứt, là hết v.v.. thì các cô lại toét miệng cười:

-“Chúng tôi xin KHÉP lại…”  

Ờ thì cứ cho là phụ nữ XHCN dạng ra khép lại là chuyện thường ngày ở huyện, nhưng còn các xướng ngôn viên nữ ở hải ngoại, vửa đẹp vừa xinh, vùa có học thức thì xin ngồi khép lại hay bắt chéo chân lên nhau, đừng dạng ra để rồi phải khép lại làm gì cho khán thính giả nhớ đến vế đối của cụ bà Hồ Xuân Hương:

-“Chành ra 3 góc da còn thiếu.

Khép lại 2 bên thịt vẫn thừa”.

Dầu sao thì trên các làn sóng phát thanh, những chữ nghĩa mà các cô cậu chôm chĩa của VC thì nó cũng bay đi, tuy nó làm chói tai, tức bụng, nhưng cái tai hại là các cô cậu nhà báo viết trên giấy trắng mực đen ngôn ngữ VC cho đồng hương tỵ nạn CS đọc thì thật là “bây nặng”.

          Tôi đem vấn nạn này đi hỏi ngtười lính viết văn PNN rằng tại làm sao lại xẩy ra hiện tượng quái đản này thì ông bảo:

           Một số người sống lâu trong XHCN đã quen với lối nói này rồi, nay ra hải ngoại vẫn chưa thay đổi được. Một số báo cứ “copy và paste” những bản tin trong nứơc làm của mình mà không dám ghi xuất xứ, mà cũng không có người sửa.

          Lời giải thích củả ông đúng quá và cũng đau quá, ý ông muốn nói lấy của người khác làm của mình là ăn trộm, lấy bài viết của người khác mà không ghi xuất xứ là đạo văn, lấy tác phẩm nghệ thuật của người khác đem vào sách của mình mà không ghi chú xuất xứ là “đạo hình”. Làm báo mà chỉ “cắt, dán”, “cọp dê, bát” thì chán qu mấy anh chị ơi!

          Tiếng Việt là của chung, sống ở hải ngoại tự do mà bôi bẩn lên tiếng Việt thì không chấp nhận được, Tự Do và XHCN có ranh giới rõ ràng. Ở XHCN họ nói, viết rằng những cái xe đụng nhau “liên hoàn” trên xa lộ thì kệ họ, nhưng ở xứ tỵ nạn mà các anh chị viết xe dụng nhau “liên hoàn” trên xa lộ thì không ai ngửi được.

          Báo trong nước vừa loan tin trên xa Saigòn Biên Hòa xẩy ra một tai nạn 10 xe đụng nhau “liên hoàn” thì vài ngày sau, Người Diệt tháng 8/2013 cũng đăng tin trên xa lộ 405 vửa xẩy ra một tai nạn giao thông 20 xe đụng nhau “liên hoàn”!

          Ối trời cao đất dầy ơi! Nó dốt nó không biết phân biệt thế nào là liên tiếp, thế nào là liên hoàn nên nó mới viết xe đụng nhau liên hoàn, tức là cái xe bị đụng đầu tiên (số 1) quay vòng ngược trở lại để húc, đụng đầu vào đít xe cuối cùng. Chuyện này chỉ có thể xẩy ra ở một vòng tròn, còn trên đường thẳng thì chỉ có ở XHCN. Những chuyện tưởng như đùa mà có thật.

          Trong bản tin về trung tâm Vân Sơn, ông-bà Đức Tuấn ghi lại lời của Vân Sơn:

           Bên cạnh phần mang lại tiếng cừơi cho khán giả, tuy chương trình có vẻ nặng về MẢNG hài, chúng tôi vẫn không lơ là về MẢNG sáng tạo nội dung sống động cho phần ca hát. Đó là mặt mạnh của chúng tôi, bởi vì đội ngũ nghệ sĩ  tham gia MẢNG hài của TTVS được xem là phong phú.

          Chả hiểu có phải chính Vân Sơn dùng chữ “mảng hài” để nói về chương trình hài hước của anh ta hay ký giả-giả của báo Người Diệt này mang cái “mảng hài” ra nhét vào miệng Vân Sơn, dù bất cứ anh nào đi nữa mà nói như vậy thì đúng là hề thật.

          Tự điển tiếng Việt do Khai Trí xuất bản trước 1975 định nghĩa “mảng” là “mảnh”, mảng vườn, mảnh vườn, mảnh đất, mảng da, mảng áo tơi, “áo tơi một mảng lặng ngồi thả câu” chứ đâu có ai gọi là mảng văn nghệ, mảng hài bao giờ! Thấy VC gọi “mảng văn hóa” là các anh nhái theo “mảng hài”! Hề quá.

          Cũng vẫn là Người Diệt, cô Lọc Ngan thì gọi những người phụ trách trang trí sân khấu là những ông “đạo cụ”! Ơ hay nhỉ, tại sao lại có mấy ông cụ “cụ đạo” mò vào hậu trường sân khấu TN Paris làm gì trong khi các nữ ca sĩ thay đồ để bị cô Lọc Ngan mắng cho là đồ “đạo cụ”, không lẽ các cụ vừa ấy… lại vừa cạo?

          Cũng trên báo Người Việt, một ông là gốc Bắc Kỳ di cư 54 như tôi, chứ không phải BK mang AK vào Nam nhận họ nhận “hàng” sau 30/475, nhưng ông lại thích quên chữ Việt của ông để vuốt đuôi ngôn ngữ V+ trong bài viết cảm tưởng của ông về một ngừơi vừa mới ra đi là cựu Trung Tá TQLC Can Trường. Tôi đọc được điếu văn của ông trên Người Việt như thế này:

          Anh (người quá cố) là một thành viên hoạt động NĂNG NỔ, chắc chắn anh sẽ gặp lại những ngừơi THÂN THƯƠNG

          Thưa ông nhiều chữ họ Đoàn Thanh L.., trong tự điển tiếng Việt xuất bản trước năm 1975 tại miền Nam có 14 chữ NĂNG…, nhưng không có chữ nào là “năng nổ” cả, có 70 chữ THÂN…, nhưng không có “thân thương”.

          Bản tính ngừơi quá cố Đoàn Trọng Cảo là hăng say, hoạt bát, nhiệt tình, nhanh nhẹn, quyền biến, linh hoạt, có tình thần trách nhiệm v.v.., bao nhiêu đức tính sẵn có của nguời lính VNCH, của Can Trường Trường Can thì ông L.. không dùng lại đi mựơn cái chữ của V+ nghèo nàn mà gán vào áo quan cho người quá cố thì phản bạn quá!

          Đội tuyển túc cầu XHCN đấu đâu thua đó, thua bét-ti-ngã, thua cả Lào, Cao Miên, khi về nước, câu đầu tiên mà thủ trưởng khen là: “tôi đánh giá rất cao các anh…”, sau khi đánh giá cao xong là mới chửi. Thế mà “Người Việt” lại viết “đánh giá cao” việc cộng đồng Việt hải ngoại đi bộ gây quỹ cho nạn nhân bão “Hải Yến” thì nhảm nhí quá đi thôi.

Mấy cái chữ thổ tả “đánh giá cao” không bao giờ có trong tiếng nói hay sách báo VNCH, nó được V+ sáng chế ra để khen chiếu lệ sau đó mới kê khai khuyết điểm để chửi, việc đi bộ gây quỹ có kết quả tốt đẹp, một nghĩa cử vậy mà Người Việt “đánh giá cao” thì NV tào lao thật.

 Người sính chữ nghĩa V+, dùng chữ V+ thì bào chữa là không phải của V+, mà có trong tự điển tiếng Việt từ lâu. Tôi đồng ý với lập luận lập lờ này, đành rằng có một số chữ như “tiếp cận, đăng ký, ấn tượng, khẩn trương” v.v… có trong tự điển, nhưng chúng ta dùng đúng lúc đúng chỗ, thí dụ như “tình trạng khẩn trương, những đường tiếp cận, có ấn tượng tốt” v.v.. chứ không dùng lộn tùng phèo làm nghèo tiếng Việt như họ hiện nay.

Tháng 5/75, đoàn xe motôlova chở tù từ trường Taberd xuống Long Giao, đọc đường anh em ta mót… quá kêu thầm tên ba-ác khiến tên cai tù nghe được bèn cho dừng xe thả tù xuống:

-Các anh đái khẩn trương lên!

Nghe V+ nói: “đái khẩn trương” nhiều anh em cười té đái, khỏi cần “khần trương”

          Cái gốc của nó nghèo nàn thì kệ họ, cả một đất nước đẹp giầu chúng còn muốn dâng cúng cho Tàu Cộng thì xá chi một vài chữ nghĩa! Tiếng Việt còn thì nứơc Việt còn, nay chúng dâng biên giới, biển đảo cho “tàu lạ” thì việc chúng giết tiếng Việt cũng không lạ, cái lạ là Ngừơi Việt viết tiếng Việt bỗng chốc trở thành Người Việt giết tiếng Việt thì tai hại quá, muốn theo voi V+ để hít bã míaTàu Cộng hay sao?

          Lại có bạn than rằng nạn chôm chĩa chữ nghĩa V+ là hết thuốc chữa rồi, nó làn tràn khắp nơi do nghị qu.. 36, có nói cũng như nứơc đổ lá môn, nước đổ đầu vịt v.v…

          Tự mình yếu đuối nên cái gì cũng đổ thửa cho cái “nghị qu 36 kiểu”, nứơc đổ lá môn, nhưng các lão bà xướng ngôn, nhà báo, văn sĩ đâu phải lá môn, còn các ông thì đâu phải là đầu vịt, chỉ vì tí $ quảng cáo, viết văn dễ tính mà nỡ giết chết tiếng Việt

          Cái cần làm ngay để giữ cho tiếng Việt được trong sáng, tiếng Việt còn thì nước Việt còn là tất cả những báo chí, tập san, đặc san, “lỏng san” có gốc lính phải tuyệt đối làm gưong trước không để sót bất cứ một tên du kích “bức xúc” nào chui vào, không những diệt tận gốc mà còn có bổn phận phổ biến rộng rãi, quảng bá nhiều lần những biện pháp ngăn ngừa và tiêu diệt chữ nghĩa V+. Những ngừơi từng cầm súng diệt Cộng, nay cầm viết thì vẫn có nhiệm vụ diệt chữ nghĩa V+, chứ đừng lười biếng, cẩu thả viết chữ VC là giết chữ Việt Nam Cộng Hòa.

          Những ai “có chức” khi đứng trước đám đông muốn nói gì thì nói nhưng phải uốn lữơi 7 lần để khạc ra những cục đàm “ấn tượng, thân thương, tham quan” v.v.., muốn viết văn thư, thông cáo, thông báo thì phải lách cho kỹ, cho sạch ngôn ngữ VC kẻo bị người đời cười chê, bị mang tiếng là ngừơi “có chứt”. Những ai chữ nghĩa bề bề thì không thể buông thả, khi viết thì phải lách, phải loại bỏ những ngôn ngữ VC đi.

          Sau nữa là ước mong ngừơi dân tỵ nạn CS đã bỏ chạy CS thì tiếp tục “bỏ chạy” ngôn ngữ VC đi, truyền thông, báo chí tỵ nạn CS nêu cao tấm gương bảo vệ tiếng Việt cho được trong sáng, ứơc mong không vì vài đổng bạc cắc mà bán rẻ chữ nghĩa tiếng Việt để mua về, ôm vào báo chí của mình những cái nghèo nàn dốt nát của VC.

          Người Việt hãy viết tiếng Việt, Người Việt đừng giết tiếng Việt.

Posted in Binh Luan, Ngon Ngu, Uncategorized | Tagged , , , , , | Leave a comment

Chính quyền Ngô Đình Diệm ngăn chặn tận gốc nguy cơ”đặc khu Chợ Lớn tự trị” ra sao?

Cù Mai Công


Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép:

Đời vua Trần Anh Tông (1293-1314), đức Trần Hưng Đạo lui về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Vua Anh Tông thấy ngài bệnh nặng sắp mất liền ngự giá đến thăm. Nhà vua đã cẩn thận xin ý kiến của Hưng Đạo Vương về cách thế đối phó với giặc phương bắc, mới hỏi rằng: “Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang thì làm thế nào?”

Hưng Đạo Vương tâu rằng: “(…) Khi nào quân giặc kéo đến ầm ầm, như gió, như lửa, thế ấy lại dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà, như tằm ăn dâu, thong thả mà không ham của dân, không cần lấy mau việc, thế ấy mới khó trị…”.

Cũng trong thập niên 1950, cảnh giác nguy cơ “tằm ăn dâu” và lấy ngay tấm gương tự trị Singapore sát cạnh, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành một loạt biện pháp cụ thể phòng chống nguy cơ tỉnh Chợ Lớn, thành phố Chợ Lớn – nơi có đa số cư dân là người Hoa – đòi tự trị.

Tỉnh Chợ Lớn (khác thành phố Chợ Lớn) vốn được chính quyền Pháp thành lập ngày 20-12-1899 với nhiều quận huyện. Dân số tỉnh Chợ Lớn ở thập niên 1950 khoảng 1.000.000 dân (bao gồm cả người Việt, người Hoa…), xấp xỉ Singapore lúc ấy.

Còn thành phố Chợ Lớn (khu vực quận 5, 6 và một phần quận 8, 10 hiện nay) vốn được thành lập sớm hơn, cùng thời điểm chính thức thành lập thành phố Sài Gòn 1865.

Đến 1956, dưới thời Chính quyền VNCH Ngô Đình Diệm, hầu hết người Hoa ở tỉnh Chợ Lớn, thành phố Chợ Lớn vẫn mang quốc tịch Trung Hoa (Trung Hoa Dân quốc – Đài Loan). Và cộng đồng này vốn có quan hệ rất chặt chẽ về gia đình, buôn bán với cộng đồng người Hoa ở Singapore – từ hàng trăm năm… 

Tấm gương Singapore + tác động ngấm ngầm của Chính quyền Trung Quốc lúc ấy + các nhóm Tam Hoàng (vốn là các nhóm Thiên Địa hội từ Trung Quốc tràn sang Việt Nam và rất manh động trong giới người Hoa ở miền Nam suốt thời Pháp thuộc) hoạt động ngấm ngầm, Chính quyền Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đã ra tay: hàng loạt biện pháp phòng chống nguy cơ “diễn biến hòa bình” được thực hiện ngay những ngày đầu tiên của nền Đệ nhất Cộng hòa. 

Nổi bật là hai biện pháp chính:

I. Công bố hàng loạt ngành nghề kinh doanh chỉ dành cho người Việt Nam; người nước ngoài không được hành nghề. 
Cụ thể Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm (Thủ tướng Diệm đắc cử tổng thống VNCH ngày 24-10-1956) ra Đạo dụ (một hình thức quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc thời đó) số 53 ngày 6-9-1956 quy định người nước ngoài không được hoạt động 11 ngành nghề, nhắm chủ yếu vào Hoa kiều:
1) Buôn bán cá thịt
2) Buôn bán tạp hóa
3) Buôn bán than, củi
4) Buôn bán xăng, dầu lửa và dầu nhớt 
5) Cầm đồ bình dân
6) Buôn bán vải, tơ lụa, chỉ sợi 
7) Buôn bán sắt, đồng, thau vụn
8) Nhà máy xay lúa
9) Buôn bán ngũ cốc
10) Chuyên chở hàng hóa, hành khách bằng xe hơi, hay tàu thuyền
11) Trung gian ăn huê hồng.

Người Hoa vốn mê buôn bán, làm ăn. Thế là chỉ trong một vài năm, dù giới Hoa kiều ở Chợ lớn – Sài Gòn phản ứng khá dữ dội cả không chỉ chính trị mà cả với hoạt động kinh tế, 99,8% trên tổng số hơn 1 triệu người Hoa ở tỉnh, thành phố Chợ Lớn cũng như toàn miền Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam; trở thành người Việt gốc Hoa như chúng ta thấy ngày nay, chứ không còn là Hoa kiều như trước đó. Một số ngoại kiều, không chỉ Hoa kiều không vô quốc tịch Việt Nam thì thoải mái “đi chỗ khác chơi” (tức trục xuất) hay tự về nước tùy ý.

Đến năm 1961, Bộ Nội vụ VNCH đã báo cáo lên Tổng thống Ngô Đình Diệm: Trên 1.000.000 người Hoa trên địa phận VNCH (miền Nam) chỉ còn 2.000 người già yếu, bệnh tật không nhập quốc tịch (0,2%) nên cũng không cần trục xuất.

Quốc tịch Việt Nam rồi thì còn đòi tự trị gì được! Không lẽ người Việt đòi tự trị với người Việt – bất hợp pháp với công pháp quốc tế.

Trước đó, chỉ sau khi khai sinh Đệ nhất Cộng hòa (26-10-1955) gần một tháng rưỡi, để giải quyết dứt khoát vấn đề Hoa kiều ở miền Nam Việt Nam, ngày 7-12-1955, Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm đã ký ban hành Dụ số 10 quy định về Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam. Điều 12 ghi rõ: “Con chính thức mà mẹ là người Việt Nam, và cha là người Trung Hoa, nếu sinh đẻ ở Việt Nam thì là người Việt Nam”.

Lúc đó, giới Hoa kiều ở miền Nam vẫn hy vọng Thống chế Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) Tưởng Giới Thạch sẽ can thiệp nên có ý coi thường, không chấp hành đạo dụ này. Thủ tướng VNCH Ngô Đình Diệm ra tiếp Dụ số 48 (ngày 21-8-1956), Sửa đổi Bộ Luật Quốc tịch Việt Nam, Điều 16 quy định:

“Hoa kiều thổ sanh (sinh trưởng tại Việt Nam) sẽ là người Việt Nam, bắt buộc phải nhập và khai nhận quốc tịch Việt Nam, hoặc nếu không chịu nhập tịch thì có thể xin hồi hương (về Đài Loan) trước ngày 31-8-1957. Thời hạn ấn định cho những Hoa kiều sinh tại Việt Nam phải làm khai sinh để được cấp thẻ căn cước sẽ kết thúc ngày 08-4-1957, việc kiểm tra sẽ hoàn tất vào ngày 22-6-1957”.

Ai không muốn nhập tịch thì ra đi, mỗi người sẽ được chính quyền Sài Gòn cấp 400 đồng để “hồi hương”, đúng theo luật định.

8 ngày sau, 29-8-1956, Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại ban hành Dụ số 52 quy định Hoa kiều sinh sống ở VNCH phải mang quốc tịch Việt để tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Người Hoa phải Việt hóa tên họ (như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v…) chứ không được xưng các tên ngoại quốc hay tên gọi riêng (như Chú, A, Chế…) kể cả bí danh, trong những văn kiện chính thức. Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa, phải viết bằng Việt ngữ.

Và 8 ngày sau nữa (6-9-1956), Thủ tướng Ngô Đình Diệm tung đòn nock-out bằng Dụ số 53 như đã nói ở trên. 

Loạt sự kiện này đã làm rung chuyển giới Hoa kiều Sài Gòn – Chợ Lớn lẫn miền Nam lúc ấy. Đến mức con nít Sài Gòn hát um xùm một bài hát ngắn gọn mà đến nay chắc chắn nhiều người Sài Gòn còn nhớ: “Các (mấy) chú Ba Tàu, thằng nào cũng như thằng nấy- Thằng nào không giấy (quốc tịch Việt), đuổi ngay nó đi về Tàu…”

II. Một tháng rưỡi sau, biện pháp địa giới hành chính ngăn chặn tận gốc cụ thể cũng được ban hành. Ngày 22-10-1956, trước khi đắc cử tổng thống VNCH hai ngày (24-10-1956), Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN “Thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. 

Theo đó, địa phận VNCH gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Tân An hợp nhất phần lớn đất đai tỉnh Chợ Lớn để thành lập tỉnh mới Long An. Một số khu vực còn lại của tỉnh Chợ Lớn nhập vô tỉnh Gia Định.

Cũng theo sắc lệnh này, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Như vậy tên gọi “Chợ Lớn” không còn được dùng chính thức trong các tên gọi hành chính cấp tỉnh thành nữa. Kể từ đây, địa danh “Chợ Lớn” chỉ còn được dùng để chỉ khu vực quận 5, quận 6, quận 11 và một phần quận 8, quận 10 của Đô thành Sài Gòn. 

Tỉnh Chợ Lớn có đa số cư dân là người Hoa tồn tại 57 năm (1899 – 1956) đến đó là hết! Thành phố Chợ Lớn 91 năm (1865 – 1956) cũng không còn! Chỉ là địa danh lịch sử – văn hóa.

Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn vốn là đơn vị hành chính do Tổng thống Pháp ký thành lập năm 1931 (Région Saigon – Cholon hoặc Région de Saigon – Cholon). Ngày 30-6-1951, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu (3 tháng sau, tháng 9-1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trước thế giới tại Hòa hội Cựu Kim Sơn) ký sắc lệnh số 311-cab/SG đổi tên Khu Sài Gòn – Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn (Préfecture Saigon – Cholon hoặc Préfecture de Saigon – Cholon hoặc Ville-capitale de Saigon – Cholon). 

Với Sắc lệnh 143/VN, Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn chỉ còn Đô thành Sài Gòn. Chợ Lớn trở thành quận 5, 6… của Sài Gòn.

Chấm hết vĩnh viễn hai địa giới hành chính, khu dân cư nhiều người Hoa có nguy cơ tự trị ở miền Nam! Chấm hết âm mưu “tằm ăn lá” muôn đời nay của các nhà cầm quyền, thế lực Trung Hoa với miền Nam.

NÓI THÊM: Cũng vào giữa thập niên 1950, Chính quyền Sài Gòn đã đặt tên lại hàng loạt con đường vốn mang tên Pháp ở Sài Gòn. Chú ý: Các con đường từ Sài Gòn (khu vực người Việt) vô Chợ Lớn (khu vực đa số người Hoa) đều mang tên các danh tướng, danh nhân, địa danh đánh thắng các thế lực xâm lược Trung Hoa: Trần Hưng Đạo (bắt đầu từ trung tâm Sài Gòn, chợ Bến Thành tới đường Cộng Hòa – nay là đường Nguyễn Văn Cừ, ranh giới Sài Gòn – Chợ Lớn), Nguyễn Trãi, Trần Quốc Toản (nay là 3-2), Bến Bạch Đằng – Bến Chương Dương – Bến Hàm Tử…

(Stt đi vào cách nhìn nhận và xử lý nguy cơ ngoại bang, không đi vào ý thức hệ chính trị – không có lợi cho hòa hợp hòa giải dân tộc trước các thế lực ngoại bang. Mong các bạn comments chia sẻ điều này.)

…………..
Thành lập 3 đặc khu , nên học hỏi kinh nghiệm..

Cù Mai Công

Posted in Uncategorized | Tagged , , , , , | Leave a comment

Bài Thơ Cho Nước

Giới thiệu nhà thơ trẻ Trương Chi

Nhà thơ Trương Chi (Hình tác giả gửi)
Bài thơ cho nước
Gửi Luật sư Trịnh Hội
 
1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ

Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do

và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế
 
2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền

Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên

Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ
 
3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?

Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua

Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”
 
4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời

Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi

Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng
 
5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”

Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường

Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải
 
6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan

Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian

Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt
 
7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?

Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng

Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…
 
8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người

Những phát ngôn của quan chức nực cười

Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”
 
9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình

Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”

Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng
 
10. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân

Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành

Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ
 
11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm

Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn

Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc
 
12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa

Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà

Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả
 
13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam

Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”

Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”
 
14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn

Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”

Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”
 
15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…

Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người

Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết
 
16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai

Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai

“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt
 
17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn

Hít thở bầu khí quyển màu đen

Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản
 
18. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do

Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia

Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc
 
19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay

Đã dấn thân vào những chốn đọa đày

Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu
 
20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam

Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang

Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc
 
21. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than

Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn

Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi
 
22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương

Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương

Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.
 
Cho quê hương Việt Nam, mùa Xuân 2018
Posted in Patriotism, Tho / Poetry, Uncategorized | Tagged , , , , | Leave a comment

Gửi các bạn ở hải ngọai – Trần Bình.

 Tác gỉa bài viết ký tên Trần Bình trong bài viết dưới đây, dường như nhân danh người trong nước thì phải, nhắn gửi các bạn VN “tị nạn chính trị” đang ở hải ngoại.
Khác ý thường khó thích, qúy vị tùy nghi
Các bạn chửi Cộng Sản 43 năm nay chưa thỏa lòng sao? Đã hơn 43 năm, các bạn cứ tiếp tục chửi bới, và chế độ hà khắc ở VN vẫn tiếp tục tồn tại.
Hiện nay, ngay từ trong nước, đã có nhiều nhà dân chủ đứng lên bất chấp nguy hiểm để đấu tranh, điều này đã bộc lộ rõ những nhượng bộ và yếu kém của chế độ. Nhưng sao đến giờ vẫn chưa có một phong trào dân chủ đủ mạnh để thách thức chế độ? 
Câu trả lời: bao năm qua, ta cứ mãi lo “địch vận”: Nói xấu, chửi bới chế độ hoặc kêu gọi chế độ tự thay đổi, mà không lo”dân vận”:
Củng cố sức mạnh dân chủ của cộng đồng hải ngoại để thúc đẩy “dân vận” trong nước và bước cuối cùng là tạo nên một sức mạnh toàn dân buộc chế độ phải thay đổi.
Như vậy, rõ ràng là thất bại không phải là do “địch” mạnh, mà do “ta” yếu. Nói rõ hơn, dân trí Việt Kiều, nhất là trong số những người hay về VN, quá yếu kém nên đã không thể thúc đẩy một phong trào dân chủ toàn dân ở trong nước.
Người trong nước thì bị bưng bít thông tin nên mù mờ về khái niệm dân chủ pháp trị đã đành, còn người Việt nước ngoài, những người đã định cư ở những xứ có nền dân chủ pháp trị cao nhất trên thế giới, thì sao?
Một sự thật đáng buồn: ngoại trừ một số ít trí thức hiếm hoi (tỉ lệ cao hơn ở các nước Châu Âu) có thể viết lách, lý luận và còn chút ưu tư đất nước, còn lại đa số Việt Kiều mặc dù đã tiếp cận với nền văn minh dân chủ Phương Tây đã lâu nhưng đã chẳng học hỏi được gì, bởi đa số họ vốn xuất thân từ một lối sống èo uột nửa Tây nửa phong kiến, khi ra được nước ngoài (dù là vượt biên, HO, con lai hay diện ODP) đều chỉ biết có một mục tiêu duy nhất là đồng tiền chứ không biết trau dồi tri thức (lười đọc sách, chỉ nghe nhạc hoặc xem Video).
Họ còn cư khư khư giữ lấy những cái “Việt Nam” lẽ ra phải bị đào thải từ lâu. Họ sợ lớp trẻ quên tiếng Việt nhưng lại không biết lo rằng coi chừng tiếng Anh của chúng chưa đủ để tiếp cận tinh hoa văn hóa của phương Tây. Họ còn thích nghe những bản nhạc than khóc não nùng èo uột muôn thưở kiểu Việt Nam vốn có khả năng làm con người mềm yếu, mất tính chiến đấu (kiểu băng nhạc TN Paris) mà trước năm 1975 đã góp phần vào sự bại trận của miền Nam.
Ngoại ngữ kém cỏi (tiếng Mỹ, Pháp…) cũng là một đặc điểm nữa của cộng đồng Việt Kiều. Không phải là điều đáng ngạc nhiên khi dư luận Mỹ (và ở các quốc gia Châu Âu khác) cho tới giờ này vẫn biết rất ít về công cuộc đấu tranh dân chủ của người Việt hải ngoại. Bởi vì trong đa số VK, khả năng viết, nói và đọc ngoại ngữ rất kém, cho nên không thể trao đổi tư tưởng hoặc truyền đạt thông điệp của mình cho người bản xứ.
Có một sự việc đáng buồn nhưng ít ai biết từ mấy chục năm qua, đến gần đây mới lộ ra. Ở New Orleans, US, nếu không có cơn bão Katrina vừa rồi, thì đâu có ai biết là rất nhiều người Việt định cư ở New Orleans không biết nói tiếng Anh và không thể tiếp xúc với Cảnh Sát khi có việc cần. (đây là những người qua đây từ 1975 đã có cơ nghiệp vững vàng, chứ không phải những người mới qua).
Ở những nơi tập trung đông người Việt như California, Georgia, Texas, và vùng Washington DC, mọi giao dịch đều dùng tiếng Việt, kết quả là trình độ ngoại ngữ của người Việt rất kém.
Đã không tiến bộ, thì phải thụt lùi. Lối tư duy, lý luận và cách hành xử của Việt Kiều giờ này chẳng khá hơn bao nhiêu khi còn ở Việt Nam. Hãy xem xét những hoạt động “văn hóa” của Việt Kiều ở hải ngoại. Có mấy ai đọc sách, suy tư, hoặc viết lách khi rảnh rang. Họ chỉ biết, từ năm này qua năm khác (1984 đến giờ) khi rảnh thì đón mua băng TN Paris để nghe đi nghe lại những bài nhạc “quê hương” cũ rích chỉ thay đổi có ca sĩ trình bày và để nghe ông NNNgạn và cô “đào” dài chân mặc váy ngắn (và rất ưa “phô” nó ra) NCK Duyen nhai đi nhai lại ba cái chuyện đàn ông đàn bà ghen tuông nhảm nhí, thiếu vắng chiều sâu về tâm lý xã hội cũng như nghệ thuật hài hước.
Tương tự như vậy, giới Việt Kiều rất “mê” HLinh và VSơn với những trò hề rẻ tiền được lập đi lập lại muôn thuở: ỏng ẹo giả gái, giả giọng Phú Yên, giọng Bắc, giọng Quảng, lời lẽ chợ trời thô tục.
Những thứ giải trí thô lậu này xem ra  bổ  hại, nhưng thật ra là tai hại rất nhiều cho công cuộc đấu tranh dân chủ, vì chúng  tình đóng góp vào chiến dịch “địch vận” của CSVN ngay trong lòng cộng đồng Việt Kiều.
Nếu bạn là một cán bộ địch vận CS, còn gì mừng cho bằng khi những kẻ ngày xưa đã từng lớn tiếng tự nhận là “tị nạn chính trị” phải hy sinh cả tính mạng bản thân và gia đình để “đi tìm bến bờ tự do”, giờ này chỉ biết chạy đôn chạy đáo kiếm tiền, cơm ngày 3 bữa no nê nằm ễnh ngửa trên sa lông thưởng thức những băng nhạc hề nhảm nhí, những bản nhạc than khóc hay ca tụng (rỗng tuyếch) quê hương đất nước và hễ có dăm ba ngày nghỉ và dư vài ngàn đô là đem về VN “thả”, xây nhà cất cửa, du lịch, ăn nhậu – đàn bà thì khoe khoang đồ trang sức quần áo, đàn ông thanh niên thì đi tìm gái, lấy vợ “hai, hoặc ba”.
Mỗi năm, hàng triệu người Việt về thăm quê, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi chuyển tải một số tài liệu dân chủ vào trong nước, còn đại đa số là về VN để vung tiền đô la, khoe khoang, hưởng thụ, giải trí. Thậm chí còn buôn lậu nữ trang hoặc ma túy. Khi về VN, họ cố tình ăn mặc cho “ra vẻ VK”, họ đòi hỏi tiện nghi này nọ, chê bai đường sá, nhà cửa ở VN thiếu tiện nghi. Chẳng trách sao người Việt trong nước vẫn đang nhìn Việt Kiều qua lăng kính “đô la”. Dưới mắt họ, Việt Kiều là những “chủng loại” lạ lùng chẳng giống ai từ nước ngoài về, có rất nhiều tiền đô và cách ăn mặc, cư xử, dáng dấp ngoại hình không giống người trong nước (mập, trắng trẻo, xem “sang” hơn, hay đeo cái “bao tử (túi đựng tiền xu) ở bụng, đeo nhiều vòng vàng nữ trang hơn…), khi nói chuyện thì giả bộ quên tiếng Việt hoặc bập bẹ vài chữ tiếng Anh cho ra vẻ.
Về khía cạnh nhân đạo, không thể khoe khoang hưởng thụ ngay trên quê hương mình vốn vẫn đang rất nghèo với hàng chục triệu người dù phải làm việc cật lực mà mỗi ngày không kiếm được hơn một đô la (khoảng 16 ngàn VNĐ). Nói thẳng ra, đây là hành động lương tâm.
Về khía cạnh dân chủ, cách hành xử nhố nhăng của đa số Việt Kiều khi về nước đã tình phá hoại (undermine) sự nghiệp đấu tranh của các nhà dân chủ trong cũng như ngoài nước. Đất nước còn nghèo, người VN cần tiền để mưu sinh. Tiền đô có thể giảm cái đói nghèo tạm thời. Nhưng để đổi đời, người Việt Nam cần một chế độ dân sinh dân chủ. Để được như vậy, người Việt trong nước cần những tấm gương dân chủ để noi theo, chứ không phải những tấm gương “đô la” qua lối hành xử nhăng nhít của Việt Kiều hiện nay.
Chừng nào mà người dân trong nước nhìn mỗi Việt Kiều về nước như là một biểu tuợng của tinh thần trung thực, nhân ái, công bằng, tự do và dân chủ, trái ngược với hình ảnh mà họ thấy từ những cán bộ Đảng giảo quyệt, tàn ác, tham lam, độc đoán, thì chừng đó sự nghiệp dân chủ cho Việt Nam mới hy vọng có cơ hội.
Không bắt buộc mỗi Việt Kiều về nước phải là một “chiến sĩ dân chủ”. Nhiều Việt Kiều bây giờ không màng đến chuyện chính trị vì lý do này khác. Đây là tự do cá nhân của họ, ta không thể bắt buộc. Tuy nhiên, với tư cách là một người Việt Nam sống ở những xứ sở dân chủ có nền dân trí cao độ, họ có trách nhiệm phải thể hiện một lối sống văn hóa xứng đáng với người dân và xứ sở đã cưu mang giúp đỡ họ trong những ngày khốn cùng chân ướt chân ráo mới nhập cư. Chính xã hội mang tính trung thực, năng động, nhân đạo, công bằng, dân chủ cao độ của người dân Tây Phương đã giúp cho người Việt định cư ở nước ngoài có thể hội nhập và thành đạt nhanh chóng.
Vậy thì những người Việt này sau khi thành đạt rồi phải có trách nhiệm, phải học hỏi và thực hành tinh thần này mỗi nơi, mỗi lúc.
Khi ở bản địa thì không được gian lận, luồn lách qua mặt luật pháp (kiểu giả nghèo xin foodstamps, giả ly dị để xin trợ cấp single parents, đi làm tiền mặt để trốn thuế…) để khỏi phá vỡ nền dân chủ quí giá mà chúng ta đang thừa hưởng.
Khi về Việt Nam thì hãy là tấm gương sáng về đạo đức, dân trí để hầu khai sáng dân trí và  tình hay hữu ý thúc đẩy một lộ trình tự do dân chủ cho Việt Nam.
Mỗi Việt Kiều, khi về Việt Nam, phải hòa đồng (chứ không hòa nhập) với người trong nước. Phải ăn như họ. Phải mặc như họ. Phải chịu đựng cái họ phải chịu đựng và phải vui cái vui của họ. Tuy vậy, không đánh mất mình và luôn tận dụng mọi cơ hội để noi gương sáng dân trí. Không cần thiết phải đả động đến các vấn đề chính trị, nhưng phải gieo trồng hạt giống của tư tưởng dân chủ. Đây là con đường tuy dài nhưng thực tế và chắc chắn.
Hãy làm “dân vận” bằng những hành động cụ thể nhất có thể làm được. Nếu bạn đồng ý với bài viết này, hãy email hay đi mua ngay một máy in rẻ tiền, một xấp giấy in, và in bài viết này gửi tới địa chỉ của những người quen (hay không quen) của bạn ở Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Nga…, nhất là những người mà bạn biết rằng hay về VN thăm thân nhân hay du lịch.
Đừng sợ mất lòng. Hãy đánh thức lương tâm, khai sáng dân trí của Việt Kiều để mỗi Việt Kiều bình thường khi về nước sẽ là một biểu tượng của tinh thần trung thực, công bằng, nhân ái, tự do và dân chủ.
Cô Tam
Posted in Opinion, Patriotism, Uncategorized | Tagged , , | Leave a comment

Việt Nam: Thảm hoạ diệt chủng đang ở ngay trước mắt

SOS Vietnam

Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quốc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:
1. TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng… nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).
2. TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt. Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt. Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2. Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem Bệnh Minamata – Wikipedia và xem Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam)
3. TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google: thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam)
4. TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).
5. TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn gĩữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg… đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“ (xem Google “Ô nhiễm môi trường tại Việt Nam”)
6. TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật.
Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam).
Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trôm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn. Với danh nghĩa “cứu trợ” và “vãn hồi trật tự” hàng triệu “chí quân nguyện Trung Quốc” sẽ tràn ngập Việt Nam.
Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google “Hội nghị Thành Đô”), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều. Sau khi sát nhập, bộ đội và công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía Bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại. Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tây Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ do cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc?
Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, nếu 90 triệu người Việt không tự cứu mình trước.
Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.
HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN – VIỆT NAM MUÔN NĂM! TUYÊN TRUYỀN RỘNG RÃI VỀ THẢM HỌA DIỆT CHỦNG LÀ VIỆC TRỌNG YẾU VÀ HẾT SỨC CẤP BÁCH!
Trong số 90 triệu người Việt, mới chỉ rất ít người nhìn thấy thảm họa diệt chủng.
HÃY CÙNG NHAU LOAN TRUYỀN THẬT RỘNG RÃI ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT và LÀM THÀNH SỨC MẠNH CẢ DÂN TỘC, người lãnh đạo hiền tài sẽ xuất hiện và chúng ta sẽ thành công.
Với những người chưa biết, đặc biệt trong công an, quân đội và đảng viên cộng sản, cần loan truyền cho họ biết. Với những người đã biết nhưng chưa tin, nhiều người kiên trì giải thích họ sẽ tin.
Có những người vì quá sợ hãi, đành chấp nhận MẤT NƯỚC, khi nhận ra THẢM HỌA DIỆT CHỦNG sẽ phải thức tỉnh. Những kẻ cố ý bán rẻ đất nước và quyền lợi dân tộc chỉ là số ít, sẽ bị dẫm nát dưới sức mạnh cả dân tộc.
Mong mỗi Quý Vị hãy chuyển tiếp bài này tới nhiều người khác. Nếu mỗi người chuyển thông tin tới 10 người, từ 10 người tới 100 người, tiếp tục 5 bước như vậy sẽ có hàng chục triệu người nhận ra sự thật và thảm họa diệt chủng sẽ bị ngăn chặn. Dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn tất cả các bạn đã góp phần truyền bá thông tin về thảm họa khủng khiếp này, góp phần cho tổ quốc và dân tộc mãi mãi trường tồn.
Không thể hy vọng Nhà nước VN bảo vệ đất nước và chống TQ.
Hiện nay công an và quân đội chỉ còn là công cụ đàn áp nhân dân và dọn đường cho quân xâm lược. Thời Bắc thuộc tuy mất nước nhưng còn dân tộc nên nhân dân ta đã giành lại đất nước năm 905. Hiện nay TQ vừa chiếm đất vừa diệt chủng, nếu không giữ được đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong. Nạn nhân tiếp theo sẽ là các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan cùng toàn vùng Đông Nam Á.
THỜI GIAN KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA. Theo hiệp định bán nước Thành Đô 1990, Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020.
Khi nạn đói, bệnh tật hoành hành và quân Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, mọi việc sẽ trở nên vô cùng khó khăn.
CẦN HÀNH ĐÔNG NGAY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN. TUYÊN TRUYỀN SỰ THẬT để NGĂN CHĂN NẠN DIÊT CHỦNG LÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC!

hạm Hồng Thúy
Văn Giang – Hưng Yên
Posted in human rights, Opinion, Patriotism, Uncategorized | Tagged , , , , , , | Leave a comment

LỜI NGƯỜI Ở LẠI

Thưa quý đọc giả,

Xin kính gửi một sáng tác mới, đầy cảm xúc của nhạc sĩ Phan Ni Tấn viết nhân ngày 30-4, Quốc Hận năm thứ 43.  Xin kính mời quí vị thưởng thức.

 

Các bạn thân mến
Để kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm nay, bạn Phan Ni tấn có soạn một bản nhạc tựa đê “ Lời người ở lại” thơ của Trần Trung đạo, nghe rất xúc động và bồi hồi, khi nhìn thấy những hình ảnh các chiến hữu đã bỏ lại một phần thân thể trên quê hương
“Trả xác thân này cho quê hương,” đó là lời hát sau cùng của bài ca đã làm cho nhiều người rơi lệ. lời bản nhạc cùng với những hình ảnh trong video clip làm chúng ta không cầm được nước mắt.
Do lời yêu cầu của nhiều người bạn Phan Ni Tấn đã kèm theo attach bản nhạc có nốt “Lời người ở lại” để các bạn tùy nghi sử dụng.

 

LOI NGUOI O LAI

Posted in human rights, music, Uncategorized | Tagged , , , , , , , | Leave a comment

Tưởng Niệm 50 Năm Thảm Sát Mậu Thân và 43 Năm Ngày Quốc Hận

Thưa đọc giả,

Hôm Thứ Sáu 13-4-2018, đồng hương người Việt vùng thủ đô đã đến Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản tại góc đường Massachusetts và New Jersey N.W., để tham dự lễ tưởng niệm nạn nhân cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến, sau cuộc chiến và đặc biệt là hơn 5000 đồng bào đã bị sát hại trong cuộc   thảm sát Mậu Thân tại Huế nằm 1968.  Buổi lễ đã được tổ chức bởi Hội Thân Hữu Thừa Thiên, phối hợp cùng Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Thủ Đô, nhóm ViệtToon, và Victims of Communism Memorial Foundation (Sáng Hội Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản).  Trong thành phần quan khách Mỹ tham dự, có ông bà Jay Katzen, thành viên hội đồng quản trị VOCMF; cô Kristina Olney, Giám Đốc về liên lạc với chính phủ của VOCMF, ông Dan Fetcher và một số sinh viên từ trường luật Georgetown.

Vị trí của Tượng Đài nằm không xa nhà ga xe lửa chính của vùng Thủ Đô, lại bên cạnh Bộ Nội An và trường luật của Đại Học Georgetown nên người qua lại rất đông.  Hai tấm biểu ngữ đòi công lý cho nạn nhân Tết Mậu Thân và Quốc Hận 30-4 đã tạo sự chú ý của rất nhiều người.  Ban tổ chức cũng đã phổ biến tài liệu cùng truyền đơn để khách bộ hành có thể hiểu thêm về tội ác của Việt cộng đối với đồng bào.  Một người cựu quân nhân Mỹ đã ghé ngang cho biết cha ông đã tử trận tại Việt Nam và ông mong có ngày được về VN cùng người Việt quốc gia, khi việt cộng cáo chung, để chào mừng tự do trở lại Việt Nam.

Như vị cựu chiến binh kia, những đồng hương tham dự lễ tưởng niệm nạn nhân cộng sản cùng cương quyết sẽ không bao giờ quên những cái chết oan khiên của đồng bào nạn nhân cộng sản và sẽ tranh đấu để không còn bao giờ còn có những cái chết oan nghiệt do cộng sản  gây ra.  Never Forget, Never Let Communist Kill Again.

Sau phần phát biểu của quan khách Mỹ, Việt là phần dân vòng hoa tưởng niệm.  Buổi lễ đã chấm dứt vào lúc 11g30 sáng

Dưới đây là bài phát biểu của ông Jay Katzen, một thành viên của Hội Đồng Quản Trị VOCMF cùng một số hình ảnh.

4/13/2018

Thank you, my dear friend and patriot Anhthu,

Imagine it’s 1930, on the eve of the sacred holiday of TET:  the feast of the first morning of the New Year’s first day.

From a boat on Hue’s Perfume River, passing a pagoda on his way to celebrate TET 88 years ago, Somerset Maugham wrote, “We went along very slowly and the sound of the paddle was the only sound that broke the silence…I would remember that perfect night and the enchanting solitude.”

Fast forward to1968.  Now, we no longer have to imagine.  Le matin du trente et un janvier.  The night is as calm as Somerset Maugham’s.  There are rumors in the Imperial City of Hue of a Viet Cong/North Vietnam assault, but they wouldn’t dare, would they?

Hue’s beautiful women have planned their special dishes with foods from Dong Ba market.  All are soon to be ready in their finery for the day to come. A day of thanks, of family, of tasty food and music, of rest or, if the kids insist, a cooling swim or a good day to go fishing.

But it was neither joy nor solitude that we recall of that day.

No, it was the cruel unrelenting premeditated fire of enemy weapons, of all calibers, that we remember and always will.  How could they?  Wanton murder over the 24 days their flag flew over our beloved citadel.  The looting of irreplaceable things; the slaughter of irreplaceable souls—Buddhist, Catholic, innocent women and children. Monks and priests, our brothers and mothers, sisters and fathers. Cousins. Maybe 10% of the people of the elegant imperial and spiritual city whose name means harmony.

Survivors fifty years later, blessed to assemble here in freedom today, are called to forgive, to live confident in a better afterlife.  I confess that I still carry a lot of Old Testament fire with me, for I find it hard to forgive.  As you, I will never forget the bestiality committed.  To those responsible, I say, “Shame on you!”  Know that your gunfire will never extinguish our passion for liberty nor our memory of the brave and beloved Vietnamese and yes, Americans, whom we remember and honor today.

 

 

 

Posted in human rights, Remembrance, Remembrance - Tưởng Niệm, Uncategorized, victims of communism | Tagged , , , , | Leave a comment